Văn hoá là mục tiêu của phát triển
Trên thế giới hiện nay người ta mới đưa ra một vài khái niệm, hay nói đúng hơn là mô tả sự phát triển, chứ chưa có định nghĩa của sự phát triển. Tuy nhiên, tôi sẽ cố gắng làm công việc khó khăn này. Tôi cho rằng sự phát triển là trạng thái cho phép chúng ta thoả mãn những nhu cầu tốt đẹp của con người. Ở đâu con người có năng lực nhận thức tốt hơn, có năng lực và điều kiện hưởng thụ tốt hơn, có điều kiện để tư duy một cách tự do và sáng tạo hơn, có sức cạnh tranh tốt hơn, tóm lại, ở đâu con người cảm thấy hạnh phúc thì ở đó có sự phát triển.
Phát triển, suy cho cùng, chính là sự tăng trưởng những
giá trị của con người chứ không phải là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Chỉ
tiêu tăng trưởng kinh tế là một yếu tố để biểu thị - có lẽ là tập trung
nhất - năng lực thoả mãn nhu cầu của con người, nhưng không phải là tất
cả. Khi người ta cố gắng để có được sự tăng trưởng bằng mọi giá thì đó
chỉ còn là cuộc chạy đua giữa các nhà chính trị. Tôi cho rằng sự phát
triển chân chính là những khả năng, năng lực và những thành tựu đó con
người tạo ra chứ không phải là kết quả của những biến hoá chính trị, của
sự thống kê mang tính chính trị.
Sự phát triển về khoa học công nghệ hay trí tuệ là sự đi
đến điểm gặp nhau giữa người sáng tạo và người sử dụng. Người ta nghĩ
ra Internet mà không ai dùng thì Internet cũng không đóng vai trò xã hội
gì. Đấy chính là lý tưởng phát triển, tính tương thích giữa dân trí và
sự sáng tạo. Trước khi đi đến trạng thái ấy, các dân tộc đang phát triển
cần phải xác lập mục tiêu sống. Nếu đi theo những hình mẫu cũ, chúng ta
sẽ luôn luôn trong tình trạng thiếu thốn. Một số nước châu Á đạt được
sự tăng trưởng kinh tế rất đáng khích lệ nhưng vẫn không phát triển, đó
là vì họ không xác lập được sự cân bằng tổng hoà của các thành tố tham
gia vào quá trình phát triền, tức là không xác lập được giá trị của sự
phát triền. Tại sao? Vì họ chỉ nhìn chính họ, vào quá khứ của họ, mà
không nhìn vào hiện tại. Họ đố kỵ với tất cả những gì ở bên ngoài.
Logic, theo tôi, cần phải khác. Chúng ta hãy đi tìm cuộc
sống của mình. Cái gì giúp chúng ta sống tốt, phát triển tốt hơn thì
chúng ta phải xem là quan trọng. Khi chúng ta xem nó là quan trọng, khi
chúng ta sử dụng nó thì chúng ta phải trả cho nó sự kính trọng nó, cũng
là kính trọng con người với các giá trị trọn vẹn của nó. Chính các giá
trị trọn vẹn của con người chứ không phải cái gì khác sẽ tạo ra hoặc phá
hoại sự phát triển bền vững. Định nghĩa sự phát triển là một nhiệm vụ
khó khăn, nhưng nếu đồng ý với chúng tôi rằng con người là mục tiêu của
sự phát triển thì có thể thấy rõ rằng phát triển bền vững chính là sự
hoàn thiện không ngừng của con người.
Trong mỗi con người có hai năng lực khác nhau: năng lực
để bán và năng lực để kiến tạo. Năng lực để bán được chủ động chuẩn bị
nhưng được sử dụng một cách bị động, còn năng lực kiến tạo thì tồn tại
một cách bị động nhưng lại được sử dụng một cách chủ động. Sự hoàn thiện
của con người chính là sự hoàn thiện các khả năng này.
Như thế, phát triển vừa là một quá trình, vừa là một
trạng thái. Khi người ta xem xét nó thì nó là một trạng thái, còn tự nó
thì là một quá trình. Phát triển là một hiện tượng. Xem xét sự phát
triển là một hiện tượng khác. Viện trợ và nhận viện trợ, chẳng hạn,
không phải là sự phát triển. Người ta có thể dùng viện trợ như phương
tiện trợ giúp phát triển, như trợ giúp y tế hay trợ giúp kỹ thuật...
Nhưng không bao giờ có thể tạo ra sự phát triển bằng
cách mang tiền cho người khác. Trợ giúp sự phát triển con người là tạo
điều kiện cho con người có đủ khả năng và năng lực để tạo ra đời sống
của chính họ. Trường hợp các quốc gia có các điều kiện tự nhiên đặc
biệt, chẳng hạn các quốc gia có nhiều dầu mỏ cũng vậy. Họ chẳng phải làm
gì nhiều để có một điều kiện sống tốt. Nhưng không ai coi đó là những
quốc gia phát triển. Tất nhiên, nếu dưới chân có một thứ gì đó giúp con
người ăn được mà không phải lao động thì đó không phải là điều bất hạnh.
Nhưng tôi cũng không biết có thể xem đó là may mắn hay không. Tôi luôn
luôn cho rằng chỉ khi nào con người tạo ra được một cách tự nhiên những
giá trị của cuộc sống thì mới có dấu hiệu của sự phát triển. Tất nhiên,
con người có thể khai thác thiên nhiên.
Nhưng họ phải khai thác thiên nhiên bằng những sáng tạo
của mình để không tàn phá các yếu tố khác của đời sống. Điều này giống
như khi được nhà của anh có một mỏ kim cương. Anh có thể đập cái nhà đi
để khai thác và mua một cái nhà khác.
Chất lượng sống chắc chắn không chỉ tính bằng số lượng
thịt hay vải, mà cao hơn, là đời sống tinh thần và môi trường sống.
Những nhu cầu vật chất là tuyệt đối quan trọng trong giai đoạn đầu, khi
con người còn phải đối mặt với nạn đói, nạn rét, nhưng khi mức sống vật
chất càng được cải thiện thì vai trò của những yếu tố văn hoá tinh thần
càng tăng lên. Như vậy, với tư cách là mục tiêu của sự phát triển kinh
tế, văn hoá góp phần quyết định nhu cầu của xã hội, thông qua đó kích
thích phát triển sản xuất và khoa họe kỹ thuật.
Như ở trên chúng tôi đã nói, bản thân việc phân định
kinh tế và văn hoá một cách rạch ròi là không chặt chẽ và thoả đáng.
Theo chúng tôi, cũng giống như những hoạt động khác mà con người tiến
hành vì sự tồn tại, phát triển và tự hoàn thiện của mình, bản thân hoạt
động kinh tế không chỉ gắn bó với văn hoá mà thực sự cũng là một mảng
của văn hoá hiểu theo nghĩa rộng.
Chúng ta đang nói chuyện phát triển kinh tế, đúng hơn là
chúng ta đang nói đến năng lực vật chất. Bởi kinh tế là phương thức,
vật chất là đối tượng, là thực thể. Các qui mô vật chất ảnh hưởng khá
mạnh đến văn hoá. Nếu chúng ta nói đến hội hoạ chẳng hạn, đại bộ phận
tranh của phương Tây là tranh sơn dầu. Tính bền vững của nó cho phép gìn
giữ nhiều bằng chứng để chúng ta thưởng thức và nghiên cứu. Trong khi
đó, tranh của nhiều nước bằng giấy nên việc bảo quản rất khó. Kết quả là
chúng ta mất đi các tư liệu để nghiên cứu. Ngược lại, con người càng va
chạm nhiều càng có kinh nghiệm. Mối liên hệ giữa văn hoá và sự phát
triển quy mô vật chất hay kinh tế luôn thông qua con người với tư cách
là một thực thể văn hoá. Phương pháp nhận thức kinh tế tác động thông
qua con người: các kế sách làm ăn, các lý thuyết về kinh tế... Cơ sở của
mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và kinh tế chính là ở chỗ: con
người, với tư cách là một thực thể văn hoá, không chỉ tham gia vào hoạt
động kinh tế, mà còn tham gia vào việc xây dựng các lý thuyết kinh tế và
vào việc uốn nắn các trào lưu kinh tế. Bản thân văn hoá và kinh tế là
các khái niệm chỉ xuất hiện trong nhận thức, chúng không phải là thực
thể. Đó là những khái niệm tinh thần, sẽ thay đổi cùng với thời gian,
cùng với sự thay đổi cả văn hoá lẫn kinh tế.
Mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và kinh tế là một
trong những quan hệ huyền bí nhất. Văn hoá có một vùng bao phủ rất lớn,
gần như trọn vẹn đời sống tinh thần của con người. Có thể nói rằng văn
hoá chính là những giá trị tinh thần của đời sống con người. Văn hoá tác
động đến mọi mặt của cuộc sống chứ không phải chỉ có kinh tế. Trong
nghĩa hẹp nhất, văn hoá, như chúng ta đã nghiên cứu trong những phần
trước, có thể được hiểu là lĩnh vực văn chương nghệ thuật. Văn hoá cũng
có thể được hiểu rộng hơn, bao gồm cả nghệ thuật, giáo đục, lối sống,
tập tục. Với những cách hiểu như thế, văn hoá được coi là mục tiêu của
chính sách phát triển văn hoá. Theo nghĩa này, nhà nước phải coi trọng
văn hoá như là một bộ phận của các hoạt động kinh tế và xã hội, phải đầu
tư để "phát triển văn hoá”.
Thông thường, cách hiểu này là kim chỉ nam cho chính
sách "văn hoá xã hội” của nhiều nhà nước, vốn giữ quan niệm kinh tế chủ
nghĩa về xã hội, một quan niệm đã ngự trị mấy thế kỷ trước và gần như
suất thế kỷ hai mươi. Quan niệm cũ này coi văn hoá là hệ quả của các quá
trình phát triển kinh tế, chính trị. Vì thế, cho đến nay, trong chính
sách phát triển của hầu hết các quốc gia, người ta tập trung phần lớn
vào các mục tiêu kinh tế, còn văn hoá nằm trong phần "phúc lợi" - các
phúc lợi kinh tế văn hoá, xã hội...
Tuy thế, cũng không nên phê phán cách quan niệm ấy, bởi
vì nó là quan niệm theo cách hiểu thông thường của đại đa số nhân dân và
cho phép hướng tới những mục tiêu gần. Mặt khác, văn hoá, đối với sự
phát triển của một quốc gia, nhất thiết phải được hiểu theo nghĩa rộng,
nghĩa tổng thể, bao gồm toàn thế các hoạt động và các giá trị sáng tạo
còn lại qua lịch sử, thể hiện trên các lĩnh vực lao động, sinh hoạt vật
chất và tinh thần.
Những người theo quyết định luận kinh tế qui sự phát
triển vào tăng trưởng kinh tế. Nhưng thực tế cho thấy không phải cứ có
thu nhập theo đầu người cao là có văn hoá cao. Một số quốc gia dầu mỏ
rất giàu có, nhưng đã không sao thoát khỏi tình trạng lạc hậu. Chính vì
lý do đó mà Liên Hợp Quốc đã phải đưa vào những tiêu chí khác để đánh
giá tình trạng phát triển, gọi là chỉ số phát triển con người mà ngoài
mức thu nhập người ta còn tính đến cả tỷ lệ sống sau khi sinh, tỷ lệ
biết đọc biết viết và số năm đi học.
Như thế, phát triển phải nhằm đem lại cho con người cuộc
sống hạnh phúc trong một xã hội tiến bộ tổng thể, cả về mặt vật chất
lẫn tinh thần. Với cách quan niệm rộng như thế, chúng ta có thể vạch ra
chiến lược phát triển xa hơn.
Văn hoá là động lực của phát triển
Nói văn hoá là động lực của sự phát triển chính là nói
đến quá trình trong đó con người được và tự trang bị cho mình những kiến
thức, những hệ giá trị để có thể trở thành một nhân tố tạo ra sự phát
triển. Mục tiêu là cái chúng ta đặt ra để phấn đấu. Còn động lực là công
cụ để đi đến mục tiêu. Khi chúng ta đã đạt được mục tiêu, chính nó lại
trở thành hành trang, phương tiện, thành công cụ để tạo ra vùng nhận
thức mới. Đó chính là động lực của sự phát triển.
Cách thức mà con người hay các dân tộc lựa chọn để tìm
kiếm tương lai cho mình là dựa trên những kinh nghiệm văn hoá của nó.
Văn hoá là nền tảng, là phương thức cơ bản để mỗi dân tộc lựa chọn cung
cách đi ra khỏi quá khứ của mình. Văn hoá là động lực, nhưng không phải
là động lực theo nghĩa thông thường. Văn hoá lớn hơn nhiều so với các
định nghĩa mà chúng ta thường thấy trong các sách vở. Theo tôi, để phát
triển, vấn đề không phải chỉ là việc chúng ta phải vứt bỏ một thói quen
cụ thể hay một cách nhìn cụ thể nào đó, như người Việt phải vứt bỏ quan
điểm tam tòng tử đức của thời phong kiến chẳng hạn, mặc dù với tư cách
là người Việt Nam, chúng tôi thiên về chủ trương loại bỏ bớt những gì cổ
xưa đang trở thành vật cản đối với với sự phát triển đất nước.
Muốn biết văn hoá thời hiện đại là như thế nào và nó tác
động ra sao đến đời sống nhân loại, chúng ta phải xem xét thời hiện đại
là gì? Tôi không hoàn toàn đồng ý với ý kiến của một số học giả về nền
kinh tế tri thức. Theo tôi, chúng ta cần xây dựng một xã hội tri thức
trong đó tri thức là tiêu chuẩn số một để phân loại, định giá con người.
Bởi nền kinh tế nào cũng là sản phẩm của đời sống xã hội. Vì thế không
thể có nền kinh tế tri thức trước khi có một nền xã hội tri thức.
Chính những tiêu chuẩn văn hoá, nhất là văn hoá chính
trị, sẽ quyết định quan điểm của con người về phát triển. Nó trở thành
động lực trực tiếp của tiến bộ. Đã đến lúc chúng ta không nên xem văn
hoá là đối tượng chung chung, mà nó phải trở thành tiêu chuẩn được thể
hiện trong hành vi hàng ngày tương ứng với cương vị và chức năng xã hội
của từng người.
Thế hệ trẻ có những tiêu chuẩn của mình. Đàn ông hay đàn
bà có tiêu chuẩn của riêng họ. Đặc biệt, nhà lãnh đạo càng phải có tiêu
chuẩn của mình. Theo tôi nền văn hoá chính trị là nền văn hoá với những
tiêu chuẩn cần thiết và bắt buộc đối với những người lãnh đạo để họ thể
hiện hành vi của mình đối với nhân dân, đùng cho nhân dân để lựa chọn
người lãnh đạo.
Tôi xin lấy hai mô hình quản lý chủ yếu trên thế giới
hiện nay: một hình phương Tây (đại diện là Mỹ) và phương Đông (đại diện
là Nhật Bản). Trái với những lời ca ngợi đầy rẫy trên báo chí, tôi không
cho rằng các công ty Nhật quản lý tốt, bởi vì tất cả các cộng đồng hẹp
đều suy thoái. Các công ty Nhật thường khép kín và đần dần biến thành
những cộng đồng mang tính gia đình. Chính sự tha hoá của các công ty
Nhật Bản đã gây ra sự suy sụp hiện nay của nền kinh tế Nhật Bản. Tuy
nhiên, các công ty Nhật không tự sáng tạo ra phương pháp quản lý của
mình. Nó bắt nguồn từ kinh nghiệm văn hoá của người Nhật. Người Nhật mở
của trước người Việt Nam xét về mặt kinh tế, nhưng người Nhật không mở
cửa về mặt văn hoá. Rất khó tìm thấy một người Nhật nói tiếng Anh tại
Tokyo ngay cả vào năm 1988, khi chúng tôi có dịp đến thăm. Tại Nhật cho
đến gần đây vẫn không có quảng cáo bằng tiếng Anh. Sự bảo thủ về mặt văn
hoá sẽ dẫn đến sự suy thoái của nền kinh tế Nhật Bản nếu người Nhật
không thức tỉnh về điều này.
Mô hình Mỹ là mô hình được ưa chuộng nhất trên thế giới.
Thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của các quốc gia, đang hướng về nền văn
hoá này. Bởi vì trong đó con người được khẳng định và được tự do sáng
tạo, tự do tiêu xài thời lượng của cuộc đời mình. Theo chúng tôi, ở đâu
con người không có tự do thì ở đó không có phát triển thật sự, có chăng
chỉ là sự đánh tráo nguồn tài nguyên này sang nguồn tài nguyên khác mà
thôi. Điều này có vẻ nghịch lý, bởi luật Mỹ chặt chẽ hơn luật Nhật rất
nhiều. Nhưng ở Mỹ, con người được tự do sáng tạo, tự do tư tưởng đến mức
không có ai có đủ uy tín để trở thành tổng thống nếu không thông qua sự
tự trình bày của mình.
Các công ty Mỹ như một tổ ong, có người ra và người vào,
dựa trên những tiêu chuẩn nào đó, với một cơ chế thông thoáng. Tôi cho
rằng mô hình này tốt hơn, bởi nó dựa trên sự tự do của con người, bởi vì
sớm hay muộn sự phát triển của xã hội cũng dựa trên sự thức tỉnh các
giá trị cá nhân. Toàn cầu hoá và hội nhập là một minh chứng cho sự mất
đi đần dần của các giá trị khu trú để cho phép con người trở thành một
đối tượng độc lập. Đó là cá nhân. Tính hiệu quả hiện thời về mặt kinh tế
của các công ty Mỹ chưa chắc đã hơn các công ty Nhật Bản. Nhưng tính
hiệu quả về mặt triết học thì chắc chắn là các công ty Mỹ hơn hẳn.
Một đặc điểm khác của mô hình Mỹ là sự linh hoạt. Cách
người Mỹ quản lý hôm nay không giống như cách quản lý của họ trước đây,
và thậm chí không giống như trong các quyển sách đó chính họ viết. Ngay
cả trong xã hội cũng vậy, họ tạo ra một cộng đồng văn hóa rất linh hoạt.
Người Mỹ cỹng học hỏi nhiều từ phương Đông. Không có Viện nghiên cứu về
phương Đông nào của các nước phương Đông lại to như các Viện nghiên cứu
phương Đông của người Mỹ. Không có Viện bảo tàng nào về châu Á ở châu Á
lại to như Viện bảo tàng châu Á tại San Francisco. Người Mỹ đang cố
gắng nhận thức thế giới và chúng ta học họ, bám sát theo sự phát triển
kinh nghiệm của họ để nhận ra được rằng chất lượng phương Đông trong các
giải pháp chính trị xã hội và kinh tế của người Mỹ hoàn toàn không kém
phương Đông. Chúng ta cần phải vươn tới các giá trị hợp lý hơn. Bởi vì
phát triển văn hoá nhằm làm cho mỗi người có năng lực ứng xử với nhiều
nền văn hoá cùng một lúc, để có thể đối thoại một cách bình đẳng với các
nền văn hoá khác. Thành công của người Mỹ không thể giải thích nếu
không xem xét vai trò quyết định của văn hoá.
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thời đại nào, kinh tế vẫn
đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, nếu như không nói là quan trọng
nhất: Chúng ta không thể nói đến phát triển nếu không cải thiện được đời
sống vật chất cho con người. Nhưng nếu như chúng ta quan niệm phát
triển như là sự tiến bộ tổng thể của xã hội thì không phải chỉ cần có sự
giàu có vật chất là có sự phát triển. Muốn có phát triển, cần phải có
những tác động của đời sống tinh thần. Hơn nữa, ngay cả việc tăng trưởng
kinh tế đơn thuần cũng cần có tác động trực tiếp và gián tiếp của văn
hoá. Văn hoá làm tăng chất lượng nhu cầu của con người, cũng làm tăng
chất lượng sản xuất kinh doanh và thúc đẩy xã hội phát triển. Chính vì
lẽ đó mà hiện nay rất nhiều nhà nghiên cứu văn hoá cổ vũ cho luận điểm
cho rằng văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển.
Thực ra con người lý tưởng là con người được cân đối
trong sự phát triển về mặt văn hoá. Con người chưa có được các giá trị
văn hoá ở mức phát triển là con người không hoàn chỉnh. ở đây cần phải
chú ý rằng nói đến phát triển là nói đến một sự so sánh tương đối. Vậy
chúng ta so sánh tương đối với ai? Với chính những cộng đồng văn hoá
khác, những con người khác. Khi chưa có nó, chúng ta phải đặt ra mục
tiêu để phấn đấu - phấn đấu để đạt tới sự trưởng thành, sự hiện đại về
mặt văn hoá, phấn đấu để các giá trị của mình tương thích với sinh hoạt
quốc tế. Nói cách khác về mặt văn hoá, mỗi dân tộc cần phải phấn đấu để
ra khỏi nền văn hoá mang tính cát cứ của mình, để có thể đối thoại, để
tương
thích một cách hoàn chỉnh, một cách hoà bình trong sinh hoạt với các cộng đồng khác. Suy ra cho cùng con người hiện đại, con người phát triển về mặt văn hoá tức là con người có thể nói chuyện với nhiều cộng đồng văn hoá khác trên những tiêu chuẩn văn hoá khác, tức là con người có thể hiểu các nền văn hoá khác nhau.
Văn hoá hình thành do sự tương tác đa dạng, ngay cả
trong cộng đồng hẹp, vì vậy người có văn hoá là người có thể tương tác
một cách thành công với cộng đồng rộng hơn, và hơn thế nữa, với nhiều
cộng đồng. Mỗi dân tộc cần phải rèn luyện để có thể có năng lực ứng xử
với nhiều hệ thống tiêu chuẩn văn hoá.
Tất cả các nhân tố trong cấu trúc văn hoá đều tác động
đến đời sống con người. Nhưng cấu trúc văn hoá rất rộng, và mỗi một dân
tộc - mỗi cộng đồng văn hoá - đều có những thiếu hụt, những khiếm khuyết
nhất định. Nghiên cứu những cấu trúc ấy không chỉ có nghĩa là nghiên
cứu các giá trị, các nội dung phổ quát của khái niệm văn hoá mà còn là
nghiên cứu những khiếm khuyết trong cộng đồng văn hoá ấy.
Đó chính là hoạt động quan trọng nhất của sự lãnh đạo
chính trị đối với sự phát triển. Tôi xin điểm qua ảnh hưởng của các
thành tố trong cấu trúc của văn hoá.
Vai trò của tri thức, tư tưởng
Tri thức là động lực của tiến bộ. Các nhà triết học của
nhiều thời đại đã từng coi lịch sử nhân loại là cuộc đấu tranh xã hội.
Tôi cho rằng lịch sử loài người đồng thời còn là cuộc đấu tranh với
thiên nhiên. Quan hệ giữa con người với nhau và với thiên nhiên làm nên
cốt lõi toàn bộ sự tồn tại của loài người. Trong quá trình đó con người
tìm hiểu chính mình và tìm hiểu thiên nhiên.
Trong tất cả các tri thức mà con người tích luỹ được qua
các thời đại thì tư tưởng là thứ quan trọng nhất, cao nhất và cũng tác
động mạnh nhất đến tiến trình phát triển của lịch sử. Đó là vì tư tưởng
trực tiếp tác động đến hoạt động của nhà nước, làm thay đổi sâu sắc đời
sống của xã hội loài người. Nhưng vai trò của hệ tư tưởng không chỉ nằm ở
đó. Như chúng ta sẽ khảo sát trong phần ba dưới đây, nhà nước còn có
thể coi là một bên đối tác trong hợp đồng kinh tế với xã hội, trong đó
nhà nước cung cấp một vài loại dịch vụ đặc biệt và đổi lấy các khoản
thuế. Trong quan hệ này không thể không có các kẻ gian lận và mọi hệ
thống pháp luật đều không thể chống được triệt để. Hệ tư tưởng lấp kín
chỗ trống đó bằng cách tạo nên những quy tắc tâm lý, đạo đức, thế giới
quan để điều chỉnh những hành vi của con người.
Những tác động trực tiếp của tri thức trong đời sống
kinh tế nhân loại đang không ngừng tăng lên. Từ kinh tế khai thác thiên
nhiên, con người đang tiến dần đến một nền kinh tế khai thác chất xám,
trong đó phần giá trị của nguyên vật liệu, tiền vốn và sức lao động cơ
bắp đang ngày càng giảm bớt.
Trong một nền kinh tế như thế, chỉ những quốc gia nào có
được một nền giáo dục tốt, đủ sức trang bị những kiến thức cần thiết
cho công dân của mình tương xứng với đòi hỏi của tương lai mới có thể có
cơ hội hội nhập thành công với thế giới.
Mọi sự phát triển luôn cần có gợi ý, luôn có yếu tố sáng
tạo của một ai đó, luôn luôn có thể nghiệm sự sáng tạo nào đó. Đó là
bản chất của sự phát triển và đó cũng là lý do giải thích tầm quan trọng
của một lực lượng tinh hoa trong xã hội. Thực ra thì thực tiễn cuộc
sống bao giờ cũng đặt ra nhiệm vụ cho người này người kia. Có UNESCO là
vì người ta cần có một tổ chức chuyên nghiệp để giao nhiệm vụ xây dựng
nền văn hoá toàn cầu, để xây dựng sự chung sống hoà bình giữa các cộng
đồng dân tộc và cộng đồng văn hoá. Tuy nhiên, chúng ta đừng kỳ vọng vào
sự hoạt động của những ai đó cụ thể hay tổ chức nào đó cụ thể. Chúng ta
phải kỳ vọng trước hết vào sự thức tỉnh những giá trị được gợi ý ở con
người và được biến thành sở hữu cộng đồng. Đúng là cần phải có ai đó gợi
ý, ai đó nghĩ trước, nhưng sự gợi ý phải gắn liền với sự chấp nhận mà
sự chấp nhận nào cũng bắt đầu từ thiện chí. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá
làm việc một cách không vô tư. Họ biểu diễn sự hiểu biết của họ hơn là
vì con người. Một số không đủ dũng cảm, hay thậm chí còn trở thành kẻ
phụ hoạ chính trị.
Theo chúng tôi, tiêu chuẩn văn hoá quan trọng nhất của
thời đại của chúng ta là trí tuệ, là tri thức. Trí tuệ không phải là
diễn đạt một cách hiện đại các kiến thức cũ mà chính là sự phát hiện
những khái niệm, những giới hạn mới trong quá trình nhận thức của con
người. Vì thế trí tuệ gắn liền với tự do.
Đã đến lúc chúng ta phải nói đến các khái niệm mới xuất
hiện trên thế giới, như khái niệm an ninh con người chẳng hạn. Khái niệm
này tương xứng với cặp phạm trù về an ninh quốc gia. Những khái niệm
mới này chính là tiêu chuẩn của thế giới hiện đại, là đòi hỏi đối với
hành vi của con người.
Vai trò của tín ngưỡng
Trong một thời gian dài, do những nhận thức phiến diện
hoặc do ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật cực đoan, người ta coi thường
hoặc phủ nhận vai trò của tín ngưỡng đối với phát triển. Rõ ràng, muốn
phát triển nguồn lực con người chúng ta không thể bỏ qua vấn đề tín
ngưỡng. Một thế giới bình an để con người trở về sau những vật lộn trong
đời sống, sau những biến động khôn lường của thực tiễn xã hội chắc chắn
là cần thiết để con người tồn tại và phát triển.
Không phải ngẫu nhiên mà thời gian cuối thế kỷ này được
đánh dấu bằng sự phục hồi của gần như tất cả các tôn giáo trên thế giới.
Mặc dù không mang một ý nghĩa như nhau ở mọi nơi trên thế giới, sự phục
hồi này, theo chúng tôi, có nguồn gốc sâu xa ở sự đổ vỡ của các hệ
thống tư tưởng chính trị. Điều này rõ nhất ở Liên Xô cũ và các nước
trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây. Tuy nhiên, điều này cũng thấy ở
cả các quốc gia Hồi giáo và Phật giáo... Nhưng điều đáng lo ngại là ở
một số nơi đang xuất hiện những hoạt động tôn giáo quá khích, do những
phần tử cơ hội giật dây, nhằm lợi dụng tình trạng mất cân bằng của tâm
lý xã hội để thực hiện những mục đích cá nhân.
Đã qua rồi từ rất lâu thời trị vì trực tiếp của tôn
giáo, nhưng người ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là tôn giáo ảnh
hưởng sâu sắc đến sự hình thành lối sống, đến đạo đức xã hội. Nhiều
người ngạc nhiên trước hiện tượng là ở nhiều nước trên thế giới, chẳng
hạn tại Thái Lan, Indonesia, Campuchia và phần nào cả Việt Nam... người
Hoa rất thành đạt và ngay cả khi chỉ chiếm một phần nhỏ dân số, họ lại
có thể khống chế được một sức mạnh kinh tế cực kỳ to lớn. Theo chúng tôi
đó không phải là ngẫu nhiên mà gắn liền với bản lĩnh của người Hoa, mà
bản lĩnh đó lại là kết quả của những yếu tố văn hoá, trước hết là tôn
giáo. Theo chúng tôi, chính Khổng giáo đã dạy người Hoa những đức tính
quí báu như cần cù, chịu đựng gian khổ, coi trọng trí thức và có quan
điểm thực tế. Những tính cách này cũng rất rõ ở người Nhật, người Hàn
Quốc và người Việt. Trong khi đó Đạo Phật hướng người ta vào trạng thái
cam chịu, dễ đầu hàng số phận và hoàn cảnh, cuối cùng là thủ tiêu sự
cạnh tranh.
Vai trò của truyền thống, đạo đức, lối sống và pháp luật?
Truyền thống, đạo đức, lối sống và pháp luật có vai trò
tổ chức, điều tiết và định hướng, dĩ nhiên bằng những cách khác nhau,
đối với sự phát triển xã hội.
Truyền thống, đạo đức và lối sống, như chúng ta đã biết,
là những lề thói, những luật lệ không thành văn nhưng được đa số thành
viên trong xã hội chấp nhận và tuân thủ. Khác với pháp luật, những yếu
tố này được hình thành một cách tự nhiên, qua quá trình lâu dài và cũng
tương đối bền vững hơn.
Tuy nhiên, không phải những yếu tố này bao giờ cũng mang
vai trò tích cực. Trong khi rất nhiều khía cạnh của truyền thống, đạo
đức và lối sống có tác dụng hỗ trợ cho sự phát triển thì cũng có những
khía cạnh khác trở thành lạc hậu, tiêu cực và cản trở sự tiến bộ của xã
hội. Có thể thấy rõ những tác động của lối sống, đạo đức và truyền thống
đến sự phát triển kinh tế nếu so sánh những xã hội như Hàn Quốc, Thái
Lan...
Yoshihara Kunio, trong cuốn sách nghiên cứu về Hàn Quốc và Thái
Lan nhận xét rằng đường như người Hàn Quốc coi trọng làm việc hơn người
Thái Lan. Người Hàn Quốc cũng ít thoả mãn hơn sẵn sàng chấp nhận mạo
hiểm hơn và coi trọng giáo dục hơn người Thái. Chính những phẩm chất này
đã đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển nhanh chóng của Hàn
Quốc và giải thích tại sao trong vòng hai chục năm Hàn Quốe đã bỏ xa
Thái Lan về mọi mặt.
Luật pháp tác động đến sự phát triển trực tiếp và nhanh
chóng hơn, thông qua những hình thức khác nhau của quyền lực nhà nước.
Pháp luật, vì thế cũng mang tính ngắn hạn hơn, đồng thời cũng mang dấu
ấn nặng nề của giai cấp cầm quyền. Nhiệm vụ của một nhà nước văn minh là
ngày càng khảm bớt tính giai cấp và tính ngắn hạn của pháp luật.
Vai trò của thẩm mỹ
Như chúng ta đã nghiên cứu ở trên, thẩm mỹ là một hệ
thống hoàn chỉnh bao gồm những năng lực tinh thần giúp cho con người
điều chỉnh hành vi của mình theo những qui luật của cái đẹp, nhằm cảm
thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo nên các giá trị thẩm mỹ. Nó không
thể bị đồng nhất với văn hoá nghệ thuật, mà bao hàm tất cả các lĩnh vực
của đời sống.
Thẩm mỹ là khái niệm có liên quan đến tất cả những mặt
khác của văn hoá như tri thức, đạo đức, truyền thống... Trong nhiều
trường hợp người ta còn có thế coi chừng như những khái niệm đồng nhất.
Chẳng hạn, chính tri thức đầy đủ về con người, xã hội, luật pháp... giúp
người ta lựa chọn cách ứng xử - đó chính là thẩm mỹ trong cuộc sống.
Nói cho cùng, thẩm mỹ cũng chính là đạo đức.
Không cần phải tranh cãi, chúng ta ai cũng thấy rõ rằng
văn hoá thẩm mỹ đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc hình thành
nhân cách của con người, mà con người lại là đối tượng phục vụ, đồng
thời là cơ sở, là động lực của phát triển.
Nguyễn Trần Bạt
Sách Văn hóa & Con người, 2005
Nguồn: Chúng Ta
