Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

30 tháng 3, 2013

, ,

Think tanks và sự hưng vong của quốc gia

Một dân tộc không có lực lượng tư duy chiến lược chuyên nghiệp, hoặc có nhưng què quặt, thì dẫu có độc lập đi nữa, cũng sẽ rơi vào trạng thái nô lệ mới: nô lệ về trí tuệ, dẫu có mở cửa đi nữa, thì cũng rơi vào trạng thái cô lập mới: cô lập về trí tuệ.

Ngày nay, tầng lớp tư duy chiến lược, được tập hợp dưới hình thức các think tanks, là một trong những tầng lớp chủ chốt đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của lịch sử. Những quốc gia không có lực lượng này, hoặc có những què quặt, hoặc không thể phát triển nó vì những lí do chủ quan, thì không thể phát triển được.

Hội nhập với thế giới từ một xuất phát điểm khá thấp, Việt Nam cần có nhận thức đúng đắn về vai trò cốt tử của lực lượng think tanks đối với sự hưng vong của quốc gia, để từ đó, bắt đầu tiến trình tái cấu trúc bằng cách xây dựng lực lượng think tanks cho dân tộc mình.

I. Quyết định vận mệnh một dân tộc

Chất lượng chính sách là yếu tố quyết định vận mệnh quốc gia, do đó, các nhóm tư duy chiến lược (think tanks) của mỗi quốc gia cũng đóng vai trò quyết định đối với vận mệnh nó.
1. Để dễ hiểu với Việt Nam, chúng ta hãy nhìn từ trường hợp gần gũi nhất, Trung Quốc.
Ở Trung Quốc, trong lĩnh vực kinh tế, bắt đầu từ cuối những năm 70 của thế kỷ trước, lực lượng tư duy chiến lược đã đóng vai trò quyết định thay đổi vận mệnh của nước này. Họ đã tái cấu trúc tiến trình ra quyết định của chính phủ, giúp lãnh đạo Trung Quốc chuyển từ kiểu tư duy kế hoạch sang tư duy chiến lược.
Một dân tộc không có lực lượng tư duy chiến lược chuyên nghiệp, hoặc có nhưng què quặt, thì dẫu có độc lập đi nữa, cũng sẽ rơi vào trạng thái nô lệ mới: nô lệ về trí tuệ, dẫu có mở cửa đi nữa, thì cũng rơi vào trạng thái cô lập mới: cô lập về trí tuệ...Để hội nhập với thế giới, đất nước cần có một tầng lớp tư duy chiến lược, và họ phải hội nhập trước. Chúng ta sẽ không thể hội nhập và phát triển nếu ngay ở mắt xích đầu tiên là lực lượng tư duy vẫn còn bị thế giới bỏ rơi.
Quá trình tái cấu trúc này được bắt đầu với các dự án sản xuất thép. Như ta đã biết, thời chủ tịch Mao Trạch Đông, tư duy kế hoạch có hai điểm mấu chốt sau. Một là, nó tư duy bằng các chỉ tiêu, thay vì bằng các mục tiêu. Hai là, để thực hiện được các chỉ tiêu đó, nó phải phát động các phong trào. Để lôi cuốn toàn dân lao vào các phong trào, nó tạo ra những "ngọn cờ" và giảm thiểu tinh thần đối thoại trong xã hội.

"Người cầm lái vĩ đại" đã quyết định tất cả, không dùng đến đội ngũ chuyên gia kinh tế và kỹ thuật, không hoạch định chiến lược trên cơ sở tri thức khoa học. Hậu quả là, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã sản xuất một lượng thép đứng thứ 4 thế giới, nhưng chất lượng thấp đến nỗi không dùng được vào việc gì, vẫn phải nhập khẩu thép của Nhật Bản, đồng thời khiến hàng chục triệu người chết đói.
Tiến sĩ Xuanli Liao ở The Chinese University of Hong Kong, trong một công trình nghiên cứu về các think tanks ở Trung Quốc, đã chỉ ra rằng, sau khi Mao Chủ tịch qua đời, đến thời Hoa Quốc Phong, các dự án thép vẫn được thực hiện theo cách cũ.
Nhưng xã hội Trung Quốc lúc này đã xuất hiện nhân tố mới. Việc bình thường quan hệ với Nhật Bản từ 1972 giúp cho các chuyên gia Trung Quốc tiếp cận với các kỹ thuật hoạch định chiến lược của Tập đoàn thép Nippon Steel (Nhật Bản), bên cạnh đó, không khí dân chủ được cởi mở hơn, nên may mắn cho Trung Quốc, lần đầu tiên sau bao nhiêu quằn quại, Chính phủ đã biết lắng nghe chiến lược của các chuyên gia, những "đại nhảy vọt" kiểu mới được chấm dứt, và dự án thép Baogang hợp tác với Nippon Steel đã thành công tốt đẹp. Trung Quốc có được một "đại gia thép" của riêng mình. [1]


Bắt đầu từ đó đến nay, chính phủ Trung Quốc bước vào một trang sử mới, trang sử kết hợp giữa "lãnh đạo" và "trí tuệ", vượt thoát kiểu lãnh đạo duy ý chí trước đó.
Nhờ vậy, Trung Quốc bước vào giai đoạn lịch sử mới, thời đại mà tư duy chiến lược không còn là việc của các "quân sư quạt mo", mà là của một lực lượng think tanks đông đảo, đóng vai trò quyết định cho những chính sách tạo ra những đổi thay tích cực nhất của đất nước họ.
2. Ở một số nước Đông Âu, khi chuyển từ thể chế xã hội chủ nghĩa (tư duy bằng chỉ tiêu, cụ thể hóa bằng nghị quyết Đảng, vận hành bằng phong trào) sang nhà nước pháp quyền (tư duy bằng mục tiêu, hoạch định bằng chính sách và vận hành chính sách bằng luật pháp), do thói quen cũ, cũng đã gặp nhiều bất cập trong quá trình ra quyết sách.
Theo Nguyễn Đức Lam, ở Slovakia, cũng như hầu hết các nước, văn bản pháp luật là công cụ chủ yếu để nhà nước thực thi chính sách. Thế nhưng, trong quá trình ra quyết sách, người ta thường bỏ qua khâu phân tích chiến lược. Hệ quả là, 60% các dự luật trình lên nội các để xin ý kiến trước khi chuyển sang Nghị viện không hề có văn bản phân tích chính sách kèm theo. Số còn lại thì có văn bản luận chứng nhưng trong đó lại thiếu lập luận, dẫn chứng, số liệu thuyết phục. [2]
Tuy nhiên, những bất cập này ở Đông Âu 20 năm trước đã được Tây Âu hỗ trợ để khắc phục, và Slovakia là một trong những nước thực sự bứt phá. Ngày nay, Slovakia, vốn chuyển đổi kinh tế sau Việt Nam 3 năm, nhưng đã thành công hơn chúng ta nhiều. Năm 2009, chúng ta hoan hỷ được thế giới viện trợ 8 tỷ USD. Trước đó một năm, trên website của World Bank có một mẩu tin ngắn: Slovakia đã chấm dứt nhận viện trợ và trở thành một nước viện trợ lại nước khác trong khuôn khổ World Bank.[3]

II. Kết nối các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa

Ngày nay, ở các nước có trình độ tổ chức cao, do các think tanks nằm ở vị trí then chốt của quá trình thiết lập chính sách, nên giữa các chính trị gia đứng ở "những đỉnh cao chỉ huy" và các think tanks của nước đó, luôn có mối quan hệ mật thiết.
1. Ở Mỹ, Đảng Cộng hòa có quan hệ mật thiết với Heritage Foundation. Think tank này cũng là nơi nhiều học giả nổi tiếng như Richard V. Allen, Lawrence Di Rita, John Lehman, Steve Ritchie... đi thẳng từ phòng nghiên cứu đến các vị trí chủ chốt của bộ máy vận hành nước Mỹ.
Những think tank thiên về phục vụ cho các đảng phái chính trị như Heritage Foundation thường là ngôi trường đào tạo thực tiễn cho các chính trị gia trưởng thành. Đó là môi trường sinh hoạt tri thức cho cả các lãnh đạo chính trị lão luyện lẫn những tài năng chính trị kế cận.
2.Tiến sĩ Cheng Ly, trong một semina ở Brookings Institution, tháng 10/2008, đã trình bày về mối quan hệ mật thiết giữa các lãnh đạo Trung Quốc và các think tanks hàng đầu ở nước này. Wang Huning, Hiệu trưởng Trường Luật của Đại học Phúc Đán (Thượng Hải) và nhóm nghiên cứu của ông là người xây dựng cho chủ tịch Giang Trạch Dân lý thuyết "Ba đại diện". Sun Qingju, Hiệu phó Trường Đảng Trung ương, là người giúp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào xây dựng thuyết "trỗi dậy hòa bình".
Đặc biệt, Hồ Cẩm Đào, sau khi lên Tổng Bí thư năm 2003, đã liên tục mời các think tanks hàng đầu Trung Quốc đến giảng bài cho Bộ Chính trị. Đến 2008, Bộ Chính trị Trung Quốc đã học 52 khóa giảng như vậy [4], tính trung bình hơn 8 khóa học một năm, cứ một tháng rưỡi thì có một khóa. Cũng năm 2008, Chính phủ Trung Quốc xếp hạng và tuyên dương 10 think tanks hàng đầu của đất nước.
So với việc Lưu Bị ba lần cúi rạp mình trước lều Khổng Minh, lãnh đạo Trung Quốc ở thế kỷ XXI cũng "hoành tráng" không kém.
3. Những mối quan hệ đặc biệt trên là hiện tượng phổ biến ở các nước phát triển, cho nên ngày nay, trong quan hệ quốc tế, có hai hiện tượng sau.


Một là, mối quan hệ giữa các think tanks chủ chốt của các nước cũng có vai trò quan trọng không kém mối quan hệ giữa các nhà lãnh đạo của các nước đó. Bernhard May, trong một nghiên cứu về vị trí của các think tanks trong mối quan hệ ASEAN và EU, cho biết, trong khoảng những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, lực lượng tư duy chiến lược về địa - chính trị ở Tây Âu đã xao lãng Đông Nam Á. Các nước Đông Âu bắt đầu hội nhập với Tây Âu khiến họ phải chú mục vào hướng đó, và Đông Nam Á sau khủng hoảng năm 1997 thì không còn là một đối tượng nghiên cứu "hấp dẫn". Hệ quả là, các chính trị gia của EU cũng thờ ơ theo. Để cải thiện mối quan hệ giữa ASEAN - EU thì một trong những việc cần làm là cải thiện mối quan hệ giữa lực lượng nghiên cứu chiến lược của hai khối [5].
Hai là, ngày nay, trong các liên minh quốc gia, xây dựng một lực lượng tư duy chiến lược chung ngày càng trở thành điều không thể thiếu. Ở châu Âu, "European Policy Center", một think tank độc lập và phi lợi nhuận, đảm nhận sứ mệnh nghiên cứu những chính sách lớn, không phải cho một nước riêng biệt mà cho toàn EU.
Ở Nhật Bản, để thúc đẩy chiến lược xây dựng cộng đồng chung Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) theo mô hình EU của Châu Âu, nhóm think tank NIRA của Nhật Bản, vốn có quan hệ học thuật mật thiết với European Policy Center của Châu Âu, đã nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình EU, so sánh với thực tiễn 3 nước Đông Á, nhằm rút ra những bài học kinh nhiệm cốt tủy [6]. Quan hệ giữa các think tanks của ba nước Đông Bắc Á này cũng ngày càng thắt chặt, cho nên trong tương lai, họ hoàn toàn có khả năng hình thành một Nhóm tư duy chiến lược chung, kiểu như "European Policy Center" của EU.
4. Xem xét kinh nghiệm của châu Âu và Đông Bắc Á thì có thể thấy rằng, ở Đông Nam Á, để có thể xây dựng một ASEAN vững mạnh, cần xây dựng một mạng lưới think tanks xuyên quốc gia của ASEAN.
Ngay ở khu vực Đông Nam Á, cũng đã có những think tanks dân sự được thế giới kính nể, chăm chú chờ đợi hành trình tư duy của họ, như "Third World Network" và "Malaysian Institute of Economic Research" của Malaysia, "Institute for Defense and Strategic Studies" và "Institute of Southeast Asian Studies" của Singapore...
Slovakia, vốn chuyển đổi kinh tế sau Việt Nam 3 năm, nhưng đã thành công hơn chúng ta nhiều. Năm 2009, chúng ta hoan hỷ được thế giới viện trợ 8 tỷ USD. Trước đó một năm, trên website của World Bank có một mẩu tin ngắn: Slovakia đã chấm dứt nhận viện trợ và trở thành một nước viện trợ lại nước khác trong khuôn khổ World Bank.
Một lực lượng tư duy chiến lược chung, dù mang hình thức "phi chính phủ" hoặc "chính phủ", là điều không thể thiếu để giúp ASEAN giải quyết những vấn đề chung của cả khối, trong đó có vấn đề "đường lưỡi bò" của Trung Quốc trên Biển Đông, cũng như chiến lược chia rẽ ASEAN của Trung Quốc.
5. Think tanks, như vậy, cần được xem là công cụ, là cánh cửa thiết yếu để thông qua đó, những quốc gia và khu vực chậm tiến có thể lĩnh hội và bắt kịp dòng chảy tư duy của khu vực tiên tiến. Một dân tộc không có lực lượng tư duy chiến lược chuyên nghiệp, hoặc có nhưng què quặt, thì dẫu có độc lập đi nữa, cũng sẽ rơi vào trạng thái nô lệ mới: nô lệ về trí tuệ, dẫu có mở cửa đi nữa, thì cũng rơi vào trạng thái cô lập mới: cô lập về trí tuệ.
Nước ta cũng chuyển đổi tương tự như Trung Quốc, nhưng lực lượng tư duy chiến lược, đáng tiếc thay, chưa được nhìn nhận đúng tầm quan trọng và chưa trở thành một thành phần xã hội chuyên biệt như ở Trung Quốc. Để hội nhập với thế giới, đất nước cần có một tầng lớp tư duy chiến lược, và họ phải hội nhập trước. Chúng ta sẽ không thể hội nhập và phát triển nếu ngay ở mắt xích đầu tiên là lực lượng tư duy vẫn còn bị thế giới bỏ rơi.

III. Tiên phong trong cuộc đua trí tuệ giữa các dân tộc

Lực lượng tư duy chiến lược của các quốc gia nằm ở vị trí then chốt trong cuộc tranh đua trí tuệ giữa các dân tộc.
1. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn của Việt Nam hôm nay, xây dựng được một lực lượng tư duy chiến lược hùng mạnh là điều kiện tiền đề về mặt cơ cấu và tổ chức xã hội để chúng ta thay đổi số phận.
Lịch sử tranh sống để sinh tồn giữa các dân tộc, xét đến cùng, là đua tranh về trí tuệ. Và cuộc đấu trí giữa các quốc gia cũng đồng thời là cuộc đấu trí giữa lực lượng tư duy chiến lược của họ. Điều này không chỉ đúng trong thời đại "kinh tế tri thức" mà còn đúng trong các thời đại trước đây.
Bước đại nhảy vọt mới của Trung Quốc có sự đóng góp không nhỏ của các think tanks.
2. Một ví dụ tiêu biểu là "Cơ quan nghiên cứu đường sắt Mãn Châu" của Nhật Bản đầu thế kỷ XX. Theo giáo sư Kobayashi Hideo, Đại học Waseda, khi được thành lập năm 1907, nhiệm vụ của think tank này là hoạch định kế hoạch xây dựng hệ thống đường sắt ở Mãn Châu và Hoa Bắc, trên cơ sở đặt dự án này trong nghiên cứu chiến lược toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, lịch sử, xã hội, dân tộc học, các vấn đề tổng hợp Nga - Trung Quốc [7]
So sánh với dự án "đường sắt cao tốc" của Việt Nam năm 2010, xét ở tính khoa học - dân chủ - trí tuệ trong cấu trúc của tiến trình hoạch định chính sách và ra quyết định, Việt Nam vẫn chưa trưởng thành bằng Nhật Bản hơn 100 năm trước.
Đến giai đoạn Nhật chuẩn bị cho chiến tranh thế giới thứ 2, think tank nói trên đã phát triển đến quy mô hơn 2.000 chuyên gia. Dù vẫn giữ lại cái tên cũ vốn đã thành "thương hiệu", think tank này đã đóng vai trò là "bộ não" của Nhật Bản, nghiên cứu toàn diện từ Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á, chuẩn bị nền tảng khoa học cho chiến lược tổng thể của Nhật Bản giai đoạn này đối với châu Á.
Đương thời, cả châu Á không có một lực lượng trí thức nào đủ tầm vóc trí tuệ và quy mô tổ chức để có thể giúp nước mình đối địch với think tank này của Nhật Bản. Bước chân của Nhật chỉ bị chặn lại khi giới quân sự của họ bỏ quên tư duy chiến lược của các chuyên gia, tấn công Trân Châu cảng khiến Hoa Kỳ tham chiến.
3. Think tanks, như trên đã nói, không phải là điều xa lạ đối với văn hóa Trung Quốc. Trong cách tư duy của họ, vì lực lượng tư duy chiến lược có vai trò then chốt quyết định sự thành bại, tồn vong của các quốc gia trong cuộc đua tranh trí tuệ, cho nên, triệt tiêu lực lượng tư duy chiến lược của đối phương là một trong những chiến lược chủ chốt và xuyên suốt.
Cơ đồ nước Sở của Hạng Vũ bắt đầu sụp đổ khi Lưu Bang lừa cho Hạng Vũ đuổi nhà tư duy chiến lược thiên tài của mình là Phạm Tăng. Cục diện của trận chiến Xích Bích bắt đầu ngã ngũ khi phía Thục - Ngô bày mưu cho nhà tư duy chiến lược giỏi nhất phía Tào Tháo là Từ Thứ lui về hậu tuyến. Có thể tìm thấy vô số những câu chuyện như vậy trong lịch sử tư duy của Trung Quốc.
Loại tư duy này không hề có trong lịch sử tư duy châu Âu. Phương thức tiến hành chiến tranh nổi bật của phương Tây là dàn trận và triển khai tối đa sức mạnh của binh lực. Ở Trung Quốc, loại tư duy nổi bật là "tướng giỏi là tướng không đánh mà thắng". "Không đánh" không có nghĩa là không động binh, mà là làm cho đối phương tan rã và sụp đổ trước khi ra đòn quyết định cuối cùng. Trong loại tư duy này, chiến trường không chỉ là một đại dương, một thảo nguyên để hai bên dàn trận. Trong đầu óc của Câu Tiễn, chiếc giường mà nàng Tây Thi ngủ với Ngô Phù Sai cũng là một phần chiến trường.
Trong chiến tranh châu Âu, phân định thắng bại rất nhanh chóng. Bởi cuộc chiến kết thúc sau khi người lính cuối cùng gục ngã. Trong tư duy Trung Quốc, ngay cả khi đã thâu tóm được đối phương, việc kiểm soát sao cho nó không thể phục hồi vẫn luôn là nhiệm vụ bắt buộc, thành ra, cuộc sống là một "cuộc chiến" vĩnh viễn.
4. Đối đầu với loại tư duy nói trên của Trung Quốc là điều không đơn giản. Người ta buộc phải bắt kịp mọi diễn biến trong tư duy của họ. Những quốc gia không có lực lượng tư duy chiến lược, hoặc có nhưng què quặt, khó có thể là đối thủ của Trung Quốc.
Vấn đề biển đảo hiện nay là một ví dụ. Nó không đơn giản là một vụ "lình xình" ngắn hạn giữa nước ta và Trung Quốc. Phương hướng giải quyết chỉ có thể nhìn thấy rõ ràng nếu đặt vấn đề ấy trong bối cảnh cuộc tranh sống để sinh tồn của dân tộc ta trước người khổng lồ. Bản chất của tranh chấp Biển Đông là cuộc so tài về phương thức tư duy, về giáo dục và văn hóa, về khoa học kỹ thuật, về khả năng sáng tạo, về cách cách tổ chức đời sống xã hội, về quan hệ quốc tế, về... mọi mặt.
Cả Trung Quốc và Đài Loan đều đã có nhiều think tanks, cả "chính phủ" lẫn "phi chính phủ", chuyên trách về vấn đề Biển Đông, cho nên nếu Việt Nam và các nước Đông Nam Á hải đảo chỉ có các chính trị gia ngồi lại với nhau "bàn mưu tính kế" thì chúng ta không thể so sánh với họ, ngay từ trong khâu chiến lược.
5. Chiến lược "không đánh mà thắng" của Trung Quốc dựa trên một phương thức tư duy chiến lược đặc biệt, "tư duy cờ vây".
Nguyên tắc thời gian trong chơi cờ vây là không quan tâm đến thời điểm thắng, chỉ cần biết sẽ thắng. Áp dụng nguyên lý cờ vây vào đời sống thực tại, họ nhìn quả địa cầu này như một bàn cờ vây vĩnh viễn. Người chơi cờ vây phải có một năng lực tư duy toàn cục rất cao để có thể tính trước được xu thế vận động của nhiều nhóm quân cùng một lúc, không chỉ nhóm quân của mình của cả nhóm quân của đối phương, nhằm bành trướng diện tích trên bàn cờ.
Được rèn luyện trí tuệ bằng tư duy cờ vây, người Trung Quốc là bậc thầy của khả năng đưa quân cờ của mình tiến vào cấu trúc của đối phương để thay đổi từng yếu tố trong cấu trúc đó, dần dần tiến tới phá vỡ toàn bộ cấu trúc. Họ là bậc thầy trong việc hoạch định những nước cờ "tầm thường" để di chuyển những quân cờ "tầm thường" đến những vị trí "tầm thường" - "tầm thường" trong thời điểm hiện tại nhưng sẽ trở thành một quả đấm thép trong một cục diện mới. [8]
Đối thủ duy nhất của tư duy cờ vây là chính nó. Ngày nay, để hiện thực hóa phương thức tư duy ấy, thì một cá nhân không thể làm được. Nếu người đồng chí khổng lồ của chúng ta đã có trên 700 think tanks, có tài liệu của Trung Quốc nói là trên 2000 think tanks, cả ở cấp nhà nước lẫn tư nhân, lại có một truyền thống tư duy chiến lược đặc biệt, thì Việt Nam để có thể tìm được một "cửa sinh" giữa muôn vàn "cửa tử" của thế giới này, cần ít nhất 1/10 số đó.


[1] Xem: Xuanli Liao, Chinese Foreign Policy Think Tanks and China's Policy Toward Japan, The Chinese University of Hong Kong, 2006, 197 - 239. P
[2] Xin xem: Nguyễn Đức Lam, Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước, Tham luận tại Hội thảo "Xây dựng chính sách trong quy trình lập pháp", Bộ Tư pháp, Hà Nội, 6/2008
[3] "Slovakia has joined the group of development aid providers within the World Bank. Regarding the significant economic progress of the country over past years, the Slovak government asked for graduation to developed status in operations of the World Bank. This means that instead of being a country receiving development aid, Slovakia will become a country providing development aid..."
Xin xem: World Bank Ranks Slovakia Among Development Aid Providers
http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/NEWS/0,,date:2008-11-21~menuPK:34461~pagePK:34392~piPK:64256810~theSitePK:4607,00.html
[4] Brookings Institution, "Các think tanks ở Trung Quốc: tầm ảnh hưởng đang lên và những giới hạn chính trị", October, 2008.
Nguồn: http://www.brookings.edu/~/media/Files/events/2008/1023_china_think_tanks/20091023_china.pdf
[5] Bernhard May, Think Tanks in ASEAN-EU Relations: European Perspective, Tạp chí Panorama, 1/2000. p. 41
[6] Xin xem: European Policy Center, National Institute of Research Advancement và Japan Foundation, 日-EUシンクタンク円卓会議報告書 (Japan - EU Think tank Rountable Report, "Next step in Global Governance"), 2005
[7] 小林英夫、「満鉄調査部 - 元祖のシンクタンクの誕生と崩壊」、東京印書館、2005
(Kobayashi Hideo, "Cơ quan nghiên cứu đường sắt Mãn Châu - sự hình thành và tiêu vong của ông tổ think tank Nhật Bản"", Tokyo Inshokan, 2005)
[8] Tư duy này càng nổi bật trong lịch sử thôn tính và đồng hóa các dân tộc trước đây và trong quan hệ quốc tế ngày nay của họ. Mặt khác, tư duy này cũng có phần tiêu cực rất lớn. Nó biến xã hội Trung Quốc thành một bàn cờ vây, làm cho người chơi cờ cũng tha hóa thành một quân cờ trên bàn cờ.

24 tháng 3, 2013

, ,

Nhà văn Nguyên Ngọc: Dân chủ không phải cái đem cho

Giải phóng đích thực bao giờ cũng là tự giải phóng. Dân chủ không phải là cái đem cho. Hơn ở đâu hết, trong giáo dục điều ấy càng rõ và thiết yếu.

- Được biết ông từng đứng lớp, bằng quan sát của mình, theo ông, có khác biệt nhiều không giữa học trò giỏi và học trò kém? Đó có phải là ở thái độ và kết quả học tập?

- Trước đây tôi có đi dạy, gần đây có đứng lớp, chưa nhiều, và có làm việc với sinh viên, cũng chưa thật nhiều lắm. Nhưng cũng đủ để tôi nhận ra một điều, đối với tôi là hết sức thú vị, tôi đã nhiều lần kiểm tra, thấy là đúng.

Điều ấy thế này: Nói chung không có học trò kém, có lẽ trừ một số ít trường hợp rất cá biệt, ở rất ít người có thể bị "tai nạn" tổn thương về mặt sinh lý thế nào đấy. Còn thì ở mỗi người, mỗi học sinh, mỗi sinh viên đều có một điểm gì đó đặc sắc.

- Nếu mỗi người đều có những tiềm năng đặc biệt thì theo ông tại sao trên thực tế, có người xuất sắc, có người không?

- Sở dĩ điều đó không bộc lộ ra có lẽ chủ yếu là vì hai nguyên nhân: Thứ nhất, chúng ta muốn mọi người đều giống nhau. Muốn đào tạo nên những người giống hệt nhau, có những đặc sắc y như nhau, mà nhân loại thì đa dạng đến vô tận, thậm chí trong suốt lịch sử không bao giờ có hai người hoàn toàn lặp lại.

Thứ hai, ta còn dở, không nhận ra được cái đặc sắc tiềm ẩn trong từng người. Và điều này còn quan trọng hơn nhiều, chính người đó, em học sinh hay sinh viên đó cũng không nhận ra được chỗ đặc sắc riêng của mình, chính em cũng yên trí mình tầm thường, vô vị, thậm chí u mê, dốt nát, và yên phận với số kiếp "trời đày", "bẩm sinh" ấy, thường khi suốt đời.



- Vậy tức là nền GD của chúng ta đã sai ngay từ cách đặt vấn đề?

- Tôi nghĩ chính sự khác biệt của từng cá thể chứa đựng toàn bộ ý nghĩa, thiên chức, có thể cả nội dung của công cuộc thiêng liêng mà ta gọi là GD. Giáo dục trước hết phải bắt đầu bằng niềm tin rằng mọi người, mỗi người đều đặc sắc, đều chứa sâu trong mình, giấu kín trong mình một năng lực nào đó.

Tạo hóa không bất công với ai hết, ai cũng giỏi về một cái gì đó, người cái này, người cái khác. Không có niềm tin ấy thì không thể, cũng không nên làm GD.

Ý nghĩa của GD, thiên chức của nó, điều khiến nó là nghề cao quý nhất là ở chỗ nó làm công việc khó khăn và thú vị nhất, hay ho và hạnh phúc nhất: Tìm cho ra, phát hiện và giải phóng cái đặc sắc chìm ẩn trong mỗi học sinh, sinh viên.

Hoặc nói cho đúng hơn, GD là giúp cho mỗi con người, mỗi học sinh, mỗi sinh viên trước hết tin rằng mình là đặc sắc. Rằng mình có đặc sắc riêng, tự mình dò tìm và nhận ra được cái đặc sắc ấy, và tự giải phóng nó, vì mình và vì xã hội, để cho mình tự tin làm người đàng hoàng, và đem cái đặc sắc của mình cống hiến cho xã hội.

Như vậy, hiểu cho thật đúng, GD là một cuộc tìm kiếm và giải phóng. Người thầy tìm kiếm cái đặc sắc riêng ở mỗi người học. Người học tự tìm kiếm trong chính mình, tìm kiếm cho ra chỗ đặc sắc riêng của mình, cùng với, hợp tác khăng khít với người bạn lớn là người thầy. Một cuộc dò tìm, tự dò tìm đẹp nhất trong mọi dò tìm, khám phá ở đời.

Đánh thức

- Điều đó mang đến cho việc giảng dạy và học tập những ý nghĩa mới, khác hơn rất nhiều với những gì chúng ta đang cảm thấy, và dường như thấy sai ở một chỗ nào đó chưa xác định được?

- Có rất nhiều khía cạnh sâu sắc khi GD được nhìn và hiểu như vậy.

Trước hết GD sâu đậm tính nhân văn, và GD cũng dân chủ sâu sắc nhất. Nhân văn thì quá rõ rồi, vì nó nhằm giải phóng những gì tốt đẹp nhất ở con người. Con người càng đậm chất người khi biểu lộ được tất cả những gì tốt đẹp nhất trong mình.

Dân chủ, vì giải phóng đích thực bao giờ cũng là tự giải phóng. Dân chủ không phải là cái đem cho, dân chủ đem cho thì không phải là dân chủ, dân chủ là giúp cho người ta vùng lên tự giải phóng. Hơn ở đâu hết, trong GD điều ấy càng rõ và thiết yếu.

Như vậy GD quả là công cuộc vô cùng khó khăn, phức tạp, tinh tế (còn gì phức tạp, tinh tế hơn con người, từng con người), nhưng cũng là công việc luôn mới mẻ và đầy hạnh phúc, hạnh phúc nhất.

Luôn mới và hạnh phúc vì mỗi lần ta lại đứng trước một con người, một thế giới mới, khác biệt, chưa từng có, vô cùng bí mật, để mà bắt đầu một cuộc dò tìm và khám phá, giải phóng mới, chưa từng có.

Đi học là hạnh phúc vì được làm cuộc dò tìm trong thế giới của chính mình, đối với chính mình, cũng hết sức bí ẩn, tự khám phá và tự giải phóng. Nói theo cách nào đó, đi học là "tự sinh ra mỗi ngày".

Giáo dục là sáng tạo, sáng tạo không ngừng. Mỗi lần lại tạo ra và tự tạo ra tác phẩm mới, chưa từng có. Tôi thường nghĩ đến Tchékov khi bàn đến GD, khi nói về dạy và học. Định nghĩa công việc của người nghệ sĩ tạc tượng trên đá, Tchékov bảo: Tạc một khuôn mặt vào tảng đá là tước đi khỏi tảng đá tất cả những gì không phải là khuôn mặt.

Bởi vì khuôn mặt vốn đã có trong tảng đá rồi, giấu kín trong đó rồi. Người nghệ sĩ là người tin sự hiện diện còn chưa bộc lộ, còn bị giấu kín ấy, nhìn thấy nó qua đá, và bằng động tác gọi là "sáng tác" lột nó ra khỏi tảng đá vốn nhốt nó.

Mỗi lần lại đánh thức, mỗi lần làm một cuộc đánh thức, và vì là đánh thức những gì tốt đẹp nhất, hay ho, mạnh mẽ nhất trong từng con người giữa vô số người vốn vô cùng đa dạng, nên chẳng có cuộc đánh thức nào giống cuộc nào. Vừa cơ bản vừa sáng tạo không ngừng. Giáo dục vì thế là một khoa học và một nghệ thuật, khoa học và nghệ thuật khó nhất và đẹp nhất.

- Tức là GD phải luôn sáng tạo, không khô cứng, không áp đặt?

- "Thao tác" chủ yếu của GD là khêu gợi, GD tuyệt đối đối lập với áp đặt. Bởi vì, dù có giỏi đến mấy người thầy cũng chỉ có thể giải phóng được tiềm năng của người học bằng tác động sao đó, cho người học tự giải phóng được chính mình.

Như ai cũng đã biết, đối với một người là vậy, mà đối với một dân tộc cũng vậy, không tự giải phóng, không tự mình vùng dậy, bằng sức lực của chính mình thì chỉ là giải phóng giả, rốt cuộc nô lệ vẫn mãi nô lệ! Mãi tăm tối, âm u. Giáo dục bằng áp đặt thì chỉ làm cho người ta u mê thêm.

Còn nữa



,

Ngu hơn lợn

“Đừng bao giờ đánh giá thấp khả năng và quyền lực của sự ngu xuẩn” (Robert Heinlein)

Một giáo sư văn học cho tôi biết là 80 năm trước, khi nhìn xã hội, cụ Tản Đà đã phải thốt ra, “cũng bởi thằng dân ngu quá lợn”. (câu sau không được phép chép). Vấn đề này thì tôi đồng ý hoàn toàn. Con người chắc chắn không thể nào sánh bằng …lợn.

Giữa người và lợn…

Thứ nhất, lợn không biết giết đồng loại, đôi khi chỉ vì ghen tức hay giận dữ (dù có thể ngụy trang dưới danh từ lý tưởng hay chủ nghĩa hay lợi ích của toàn dân). Dù mang tiếng tham ăn, nhưng lợn không mất ngủ hằng đêm để suy nghĩ về những âm mưu thủ đoạn để cướp thêm của cải, để giàu hơn, để chia lại cho đám con ông cháu cha đang sống đời ăn bám. Lợn không có hoang tưởng phải làm lãnh tụ, thu tóm quyền lực, để phô trương những thành tích, huân chương, bằng cấp giả…cho sách sử ghi chép. Và tôi chắc chắn là dù bọn lợn phải vào lò sát sinh khi con người nuôi đủ cân, chúng cũng không…ngu xuẩn làm kiến nghị xin cho sống thêm vài ngày để trì hoãn đau đớn hay để đợi chờ một phép lạ nào.

Ngoài ra, chắc ít người biết, trong một khám phá khoa học, lợn có khả năng “làm tình và đạt đỉnh” hơn 100 lần mỗi ngày, không cần Viagra. Tôi chắc ông Hiệu Trưởng gì đó ở Bắc Giang hay ngài tỷ phú 80 tuổi ngoài Vũng Tàu cũng phải chào thua…các chú lợn.

Tóm lại, nhìn lại đời mình sau 68 năm, tôi phải chấp nhận là không những mình ngu hơn lợn, mà còn không biết …hưởng thụ là gì?

Lợn trí thức…

Tuần rồi, đi ăn tối với một Việt Kiều, nghe anh tâm sự về chuyện khôn ngu của con dân xứ Đại Cồ Việt.

Anh này trước 1975, thuộc thành phần tranh đấu chống VNCH và Mỹ, một trong những lãnh tụ sinh viên nổi tiếng. Sau 1975, anh hờ hởi đón mừng đoàn quân “giải phóng” vào Saigon và hợp tác chặt chẽ với chính quyền “cách mạng” mới. Họ trả công cho anh bằng một chức “ngồi chơi xơi nước” tại một ủy ban kinh tế của Thành Ủy. Quen lối phê bình mạnh miệng trong sự tranh cãi tự do thời Mỹ Ngụy, anh bị “cách mạng” nhốt 2 năm ở Chí Hòa. Sau khi cải tạo tư tưởng để nhất quán với Mác Lê Mao, họ thả anh ra và anh vượt biên qua Mỹ làm tên tư bản “giẫy chết”. Anh đi học lại và thành công tốt trong sự nghiệp sau đó.

Lần rồi, về Việt Nam, anh ghé thăm một bạn cũ, đã sát cánh cùng anh xuống đường tranh đấu chống Mỹ Ngụy và đem lại một trang sử mới cho Việt Nam. Bạn anh, cũng khá nổi danh, bị để ý, thẩm cung và theo dõi vì những tham dự trong các cuộc biểu tình gần đây và các bản kiến nghị liên tiếp về…chuyện người ta và người lạ.

“Anh nói với thằng bạn:’ mày là một sỉ nhục của trí thức. Phạm đến 3 lần “đại ngu” trong đời. Lần thứ nhất, nghe lời tuyên truyền, vác ngà voi đi giúp Đệ Tam Quốc Tế thực hiện ý đồ cùa Stalin, Mao, gây cảnh bể dâu cho cả triệu người vô tội. Lần thứ hai, không ở trong phe nhóm, không phải là bà con thân thuộc, không có gốc rễ mà lại mong chúng ban cho quyền hành chức vị. Thất vọng rồi chửi rủa phản kháng, ngu thêm một lần nữa. Lần thứ ba, gần đất xa trời, tóc bạc răng long, xương khớp đi không nổi, lại bầy đặt xuống đường phản kháng, viết kiến nghị năn nỉ xin con sói tự biến thành …con cừu’. Một thằng có nhiều bằng cấp giả, mà ngu đến 3 lần trong một đời người thì coi như bó tay.”

Tư tưởng Mao Trạch Đông

Dù ngu hơn lợn, tôi cũng nhận chân ra rất sớm nhiều điều tàn nhẫn về thực trạng con người và xã hội. Tôi tránh xa chính trị vì Mao Trạch Đông đã nói rất đúng là quyền lực chánh trị khởi nguồn từ họng súng. Hiện nay, tôi chỉ có một khẩu súng… đã hết hạn xử dụng, chỉ để hù con nít. Cho nên, khi nói đến các vấn nạn xã hội và kinh tế mà có dây vấy đến chánh trị, thì cũng là vô tình, vì những liên quan hữu cơ giữa các hiện tượng. Khi các bạn trách móc là không dám “mó dái ngựa” thì tôi cũng cười trừ. Tôi có ngu hơn lợn…nhưng chắc chắn là tôi không điên.

Tôi đã nói là xứ Mỹ may mắn có những lãnh tụ ngày xưa biết kiến tạo một hiến pháp phân quyền để các hoạt động của chánh phủ kiểm soát lẫn nhau và người dân có thể an tâm theo đuổi hạnh phúc của cá nhân và gia đình mà không bị những can thiệp thô bạo của chánh phủ cản trở hay hủy diệt. Tuy nhiên, cái khôn ngoan đó cũng cần sự che chở của những họng súng.

Mềm cũng cần cứng…

Nếu không có lực lượng vũ trang hùng hậu của một đế chế siêu cường, thì cái lý tưởng dân chủ, hay nền kinh tế thị trường sáng tạo…đã bị những “thế lực thù địch” chôn vùi.  Tiền bạc hay tài sản mềm chỉ có thể ổn định dưới một sức mạnh quân sự. Tôi vẫn cười khi nghe các ngài khoa bảng tiến bộ của Âu Châu khoe khoang về văn minh dân sự của xã hội mình so với những áp lực ganh đua trắng trợn của đời sống Mỹ. Họ không hiểu rằng nếu không có ô dù che chở về quân sự của đế chế Mỹ, thì nhân dân họ đã làm bồi cho KGB của Nga và Đông Âu 50 năm về trước; hay các nhóm Hồi Giáo cực đoan chắc đang đốt phá mọi nhà thờ của Thiên Chúa Giáo trong lúc này.

Ngay cả Đông Nam Á, nếu không có cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc, tôi tin là đường “luỡi bò” sẽ thành đường “đuôi rồng”. Và các trường dậy “tiếng lạ” sẽ phổ thông hơn các quán cà phê…của Trung Nguyên hay Starbuck.

Không biết thi sĩ nào đã viết…” Kiếp sau xin chớ làm người…Làm con lợn béo..giữa chuồng mà tru…ú ù u…omg (oh my God)…”

Alan Phan 

T/S Alan Phan là tác giả của 9 cuốn sách về thị trường mới nổi, giảng viên thỉnh giảng tại các đại học Mỹ và Trung Quốc, và doanh nhân có 44 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc. Web site cá nhân của ông là www.gocnhinalan.com.

, ,

Hàn Quốc: Cái giá của sự thành đạt

Bức tượng với hi vọng ngăn người tự tử trên cầu Mapo bắc qua sông Hàn, Seoul - Ảnh: Reuters
Chính quyền thủ đô Seoul của Hàn Quốc tuần trước đã phải lắp đặt các thiết bị giám sát tự tử ở nhiều cây cầu bắc qua sông Hàn, sau khi 196 người đã nhảy xuống từ những cây cầu này năm ngoái.

Cách giải thoát u ám

“Xã hội Hàn Quốc hoàn toàn không có lòng thương xót cho những người thua cuộc”
Để trở thành điều thần kỳ châu Á, xã hội Hàn Quốc đã phải trải qua một cuộc chạy đua hết sức khắc nghiệt. Năng suất lao động tăng, kinh tế phát triển nhảy vọt, một xã hội trước đó khép kín, nông nghiệp và Khổng giáo trong vài thập niên chuyển mình thành quốc gia hiện đại bậc nhất châu Á, do đó những hiệu ứng xã hội là không thể tránh khỏi.

Hệ thống ngăn chặn tự tử trên sông Hàn đầu tiên sẽ được lắp thí điểm tại hai vị trí thuộc cầu Mapo, nơi gần 90% trong số 196 người tự tử lựa chọn trong năm rồi, tăng mạnh so với 57 vụ năm 2003. Nỗ lực tuyệt vọng trước đó của chính quyền với các tấm biển lớn mang những dòng chữ “Phần đẹp nhất đời bạn chưa tới” và “Có gì đâu mà lo lắng” đã thất bại.

Chính giữa cầu, bỏ qua các đề nghị kiến trúc, chính quyền còn dựng lên bức tượng một cụ già đang an ủi một chàng thanh niên, nhưng tất cả đều vô ích. Tự tử, do sức ép quá lớn của đòi hỏi thành công trong học hành và sự nghiệp, trở thành một nỗi nhức nhối với Hàn Quốc dù mức sống ngày càng tăng cao và người dân ngày càng giàu có.

Thống kê của Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) cho thấy Hàn Quốc là nước có tỉ lệ tự tử cao nhất trong nhóm, trung bình 33,5 người trên 100.000 người Hàn Quốc đã tìm cách kết liễu đời mình trong năm 2010, vượt xa các nước xếp thứ hai là Hungary (23,3) và Nhật Bản (21,2). Con số đó tương đương gần 50 người Hàn Quốc tự tử mỗi ngày và tăng quá nhanh so với năm 2000, khi tỉ lệ tự tử trung bình mới là 13,6 người trên 100.000 dân.

Cuộc sống với một sinh viên Hàn Quốc luôn có quá nhiều sức ép phải thăng tiến trên những
bậc thang xã hội - Ảnh: groovekorea.com
Mùa hè năm 2011, trường đại học uy tín nhất ở Hàn Quốc, Học viện Khoa học công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (Kaist), đã có một học kỳ bi kịch với hàng loạt vụ tự tử. Chỉ trong nửa năm học, bốn sinh viên và một giáo sư tên tuổi đã tìm tới cái chết. Áp lực học hành là chết người theo nghĩa đen ở Kaist và trường phải có một bộ phận các chuyên gia tâm lý riêng để tư vấn cho các trường hợp dự định tự tử. Hiệu trưởng trường cũng đứng trước chỉ trích vì chính sách gây tranh cãi đánh vào danh dự sinh viên với việc thu thêm học phí những ai không đạt yêu cầu.

“Ngày qua ngày, chúng tôi bị mắc kẹt trong một cuộc đua không hồi kết bóp nghẹt chính chúng tôi - Hội sinh viên Kaist nói trong một tuyên bố sau vụ tự tử gần nhất - Chúng tôi không có được 30 phút nghỉ ngơi cho sinh viên vì bài tập về nhà, khóa luận và mọi đòi hỏi khác. Chúng tôi thậm chí đã mất khả năng tươi cười một cách tự nhiên”.

Thanh niên ở Hàn Quốc sống trong nỗi buồn và sức ép đã trở thành mãn tính. Báo New York Times dẫn một nghiên cứu gần đây nói năm thứ ba liên tiếp Hàn Quốc là một trong những nước có nhiều người thấy bất hạnh nhất trong khối OECD. Bộ Giáo dục nước này thông báo 146 học sinh, sinh viên đã tự tử trong năm 2010, bao gồm 53 người ở trường cấp III và cá biệt có cả ba em ở tiểu học. Các chuyên gia tâm lý bày tỏ lo ngại đặc biệt vì nhiều sinh viên không hề tìm tới sự trợ giúp hay tư vấn, họ không có thời gian vì phải bận... ôn thi. 

“Xin nhớ cho là học sinh, sinh viên mới chỉ là những cô cậu bé không có nhiều kinh nghiệm với các tình huống không thể lường trước” - New York Times dẫn lời Kim Mi Hee, một chuyên gia tâm lý ở Kaist. Kim ước tính 10% sinh viên tại đây đã tới trung tâm của cô nhờ giúp đỡ: “Họ đều là những người thông minh, sáng láng và có thể thích nghi tốt với áp lực. Họ có nghị lực rất lớn, chỉ có điều họ phải chia sẻ. Khi đó, quá trình trị liệu sẽ rất nhanh”. Nhưng rất ít người liên hệ với các chuyên gia tâm lý, và những giáo sư ở Kaist cũng không được huấn luyện để phát hiện các sinh viên trầm cảm. 

Vấn đề lan rộng ra toàn xã hội. Các nhà ga xe điện ngầm ở Seoul phải có rào cản để ngăn người ta nhảy vào những đoàn tàu đang đến. Các vụ tự tử của ca sĩ, người mẫu, diễn viên, vận động viên, triệu phú và nhiều nhân vật nổi tiếng khác gần như trở thành chuyện thường nhật. Ngay cả cựu tổng thống Roh Moo Hyun cũng gieo mình xuống vách đá năm 2009 sau khi bị điều tra tham nhũng và cảm thấy mất mặt trước đồng bào.
Câu hỏi của Ken. M - một người nước ngoài - rằng bí mật sâu kín nhất của Hàn Quốc trong chuyện này là gì đã nhận được một câu trả lời như sau: “Bí mật là Hàn Quốc là một xã hội dung túng ở một mức độ đáng kinh ngạc sự tàn nhẫn và độc ác với những người bị thua thiệt trong một xã hội cạnh tranh. Không thể hiểu được vấn đề tự tử ở Hàn Quốc nếu không hiểu điều này: xã hội Hàn Quốc hiện đại được cấu thành trong một cuộc cạnh tranh ở mức độ không thể hiểu thấu đối với hầu hết những ai ở bên ngoài Hàn Quốc, và hoàn toàn không có lòng thương xót cho những người thua cuộc” (*).

Một xã hội quá nhiều sức ép

Gangnam style hay thậm chí K-Pop có lẽ là những ví dụ tiêu biểu cho sự vươn lên của Hàn Quốc trên trường quốc tế. Nhưng nhìn từ một phía khác, đó cũng là hiện thân của một làn sóng văn hóa mới hoàn toàn xa lạ với những gì truyền thống đang tràn qua Hàn Quốc. Đi cùng là những kẻ mới giàu, nền văn hóa nhân tạo... vốn chỉ có thể đến trong sự chuyển mình dữ dội về mặt kinh tế của “điều kỳ diệu trên sông Hàn”.

Tuy nhiên, cùng lúc với sự tự tin ngày càng lớn trên trường quốc tế, những nỗi lo lắng, cả về kinh tế, văn hóa và xã hội, cũng ngày càng nhức nhối ở quê nhà, mà những vụ tự tử ngày càng nhiều chỉ là phần nổi của tảng băng. Tỉ lệ tự tử cao, tỉ lệ sinh giảm và một xã hội với những cá nhân tranh đấu liên tục, cô đơn, ít tình cảm, những gia đình rạn vỡ vì mối liên kết giữa họ đang bị chi phối bởi quá nhiều áp lực đang khiến nhiều người Hàn Quốc lo lắng.

Khi ngày càng giàu có, người Hàn Quốc lại ngày càng đặt nhiều câu hỏi về mô hình hiện tại. Thống kê của OECD cho thấy tình trạng bất bình đẳng đang gia tăng ở Hàn Quốc vào loại nhanh nhất trong số những nước giàu. Các đại tập đoàn lừng lẫy ở nước ngoài bị cáo buộc đẩy những doanh nghiệp vừa và nhỏ vào cảnh phá sản. Và dù các con số thống kê ấn tượng tới đâu, ngày càng nhiều người Hàn Quốc thấy nghèo khó, bất hạnh, phải làm việc quá sức và chịu quá nhiều sức ép xã hội. Tất cả điều đó khiến tỉ lệ sinh ở nước này giờ chỉ còn 1,23%, thấp hơn hẳn mức thay thế 2,2% và thậm chí còn kém cả Nhật Bản (1,4%).

Người già cô đơn, người trung niên chịu nhiều sức ép, còn người trẻ phải đối mặt với những thách thức rất lớn ngay từ những ngày khởi nghiệp. Tỉ lệ thất nghiệp ở người trẻ hiện xấp xỉ 6-7%, hơn gấp đôi so với mức trung bình của toàn lực lượng lao động, gây ra một vấn đề xã hội. “Đang có sự mất cân đối vì nhiều người tốt nghiệp đại học, tìm việc sang trọng, không tương ứng với nhu cầu của thị trường lao động - Kim Hwan Sik, vụ trưởng Vụ Dạy nghề ở Bộ Giáo dục, nói trên BBC - Nếu như bất kỳ ai rời trường cấp III đều bị đối xử với ít sự tôn trọng và tình trạng tài chính kém hơn, thì ai muốn đi con đường đó chứ”.

Nỗ lực tìm giải pháp

Chính quyền đã tiến hành những nỗ lực tuyệt vọng nhất cho vấn đề. Chẳng hạn đội phản ứng nhanh 100 người ăn lương nhà nước đã được thành lập chỉ để lần tìm trên Internet những dấu hiệu về một ai đó có khả năng tự tử để ra tay ngăn chặn. Trung tâm cho các cuộc gọi khẩn cấp ở Seoul cũng mở một đường dây riêng tư vấn cho những người “đang gặp bế tắc trong cuộc sống”, một cách nói giảm nói tránh của “chuẩn bị tự tử”.

Nhưng những cố gắng là khá hạn chế. Tiến sĩ Hong Kang Ee, chuyên gia tâm lý học, nói với BBC: “Những gì chúng tôi có thể làm là khá hạn chế. Một số cuộc gọi mà tôi nhận được là từ những người đã cương quyết kết liễu đời mình và chỉ gọi để thông báo nhờ để ý tới thi thể của họ. Những người khác thậm chí gọi đến để hỏi cách tốt nhất để tự tử. Cũng có vài tình huống chúng tôi can thiệp được, nhưng chúng ta cần những giải pháp mang tính nền tảng hơn”.

Năm 2011, Quốc hội Hàn Quốc đã yêu cầu chính phủ có động thái quyết liệt hơn với những vụ tự tử, bao gồm tăng cường ý thức của người dân, các chương trình xã hội và hoạt động cộng đồng, tiền sẽ được chi. Nhiều hành động đã thực hiện, từ giải pháp thô như lắp camera trên các cầu sông Hàn, rào chắn tàu điện ngầm, các đội phản ứng nhanh tới biện pháp tinh vi hơn như các trung tâm hỗ trợ tâm lý, nâng cấp các trung tâm thần kinh...

Cựu tổng thống Lee Myung Bak từng có chuyến thăm hàng loạt trường dạy nghề và có những phát biểu hướng nghiệp với thanh thiếu niên tại đó. Ông gọi họ là những người tiên phong mới của Hàn Quốc. “Cần có sự thừa nhận bốn năm kinh nghiệm làm việc tương đương với một tấm bằng. Chính quyền sẽ phải làm gương và các định chế công không được phân biệt đối xử với những người đi làm ngay sau khi rời trường cấp III, sau đó mới hi vọng lĩnh vực tư nhân làm theo” - vụ trưởng Kim Hwan Sik thử đưa ra một giải pháp.
Đó có lẽ cũng chỉ là những giải pháp bề nổi khi vấn đề xuất phát từ những nguyên nhân mang tính nền tảng sâu xa với cả xã hội.
___________
, ,

Giáo dục ĐH: Về tổng thể, ta vẫn đang đi xuống

GS.TSKH Phùng Hồ Hải - Ảnh: Thư Hiên
TTCT - “Muốn có người học giỏi thì phải có thầy giỏi, muốn có thầy giỏi thì thầy của thầy phải giỏi”.

GS.TSKH Phùng Hồ Hải, phó viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, nói với TTCT trong cuộc trò chuyện đầu năm về con đường phát triển giáo dục đại học mà ông cho là “không thể bước vội, càng không thể chạy đua” khi mà ngay cả chất lượng tối thiểu vẫn chưa đảm bảo. 

GS Phùng Hồ Hải nhận xét: 

- Chất lượng đào tạo đại học của mình đang rất không ổn. Riêng với ngành toán, ngành của tôi, thì có thể khẳng định là rất đáng báo động. Cách đây 10 năm, chúng tôi tưởng chúng ta chỉ thiếu tiền, thiếu điều kiện cơ sở vật chất để đào tạo cho tốt chứ không thiếu người học giỏi. Vì thế chúng tôi không ngừng tìm kiếm học bổng ở các trường đại học tốt cho sinh viên. Nhưng thực tế mà chúng tôi đang đối mặt là người học chứ không phải chỗ học ở nước ngoài. 

Bây giờ, nếu có sinh viên giỏi thì người ta có thể cho chúng tôi vài ba chục suất học bổng ngay lập tức. Nhưng việc tìm được khoảng mươi em đáp ứng được các tiêu chí về chất lượng để ra nước ngoài học không đơn giản. 

* Phải chăng chất lượng đầu vào thấp nên đầu ra khó mà cao, thưa giáo sư? 

- Nếu bảo do chất lượng đầu vào nghĩa là đổ lỗi cho người học. Không đúng! Tôi nghĩ là do chất lượng đào tạo, do chất lượng giảng viên của chúng ta thấp. Cần phải nhìn thẳng vào thực tế. Muốn có người học giỏi thì phải có thầy giỏi, muốn có thầy giỏi thì thầy của thầy phải giỏi. Thầy giỏi của chúng ta ít nên sinh viên của chúng ta chưa giỏi là phải thôi. 

Giải quyết vấn đề này thế nào đây? Tôi nghĩ là mình không thể đi nhanh được, “dục tốc bất đạt”. Không thể hi vọng trong thời gian ngắn mà xoay chuyển được tình thế. Bài học của nước Đức cách đây hơn chục năm là một ví dụ. Vì cần phát triển công nghệ thông tin, thủ tướng Đức khi ấy là ông Gerhard Schröder đưa ra một quy chế mới là cấp thẻ lưu trú cho 10.000 chuyên gia công nghệ thông tin, chủ yếu để hút chuyên gia giỏi từ Ấn Độ sang. Đó là một vấn đề lớn của Đức về chính trị nhưng ông Schröder vẫn chấp nhận. 

Tại sao, trong khi nước Đức có 100 trường đại học? Bởi vì ngay cả một nước phát triển như nước Đức khi phải giải quyết bài toán nhân lực cao cũng hiểu rằng 100 trường đại học của họ không dễ gì đào tạo ngay được 10.000 chuyên gia! Vậy mà nước mình đặt ra mục tiêu trong 10 năm đào tạo 20.000 tiến sĩ.

Chỉ có mươi trường đáng gọi là “University”

* Giáo sư lo rằng do nóng lòng tăng quy mô mà chất lượng không đảm bảo? 

- Rõ ràng là như thế! Việc mở rộng quy mô quá nhanh mà không quan tâm tới chất lượng những năm qua giống như việc ta đổ cả lít nước vào một cốc rượu, loãng ra hết nên không còn phân biệt được giỏi, kém! Chúng ta không có cơ chế phân biệt trường tốt và trường không tốt khiến những sinh viên giỏi thua thiệt. Bằng cấp của sinh viên tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu không hơn gì một cơ sở đào tạo làng nhàng khác. 

Người học bao giờ cũng nhìn vào thực tế. Nếu anh không cần học mà vẫn có hiệu quả thì mắc mớ gì anh phải học? Tuy nhiên gần đây đã có sự thay đổi theo tôi là đáng mừng từ một số nhà tuyển dụng. Họ phản ứng bằng cách cho vào sổ đen những cơ sở đào tạo kém. Nhiều nơi phản ứng, cho rằng làm như thế là trái luật. Tôi thì ủng hộ. 

* Đã có rất nhiều ý kiến than phiền về chất lượng đào tạo đại học của ta, cho rằng điều khiến đại học Việt Nam không thể vượt lên được là do quá thiếu vắng nghiên cứu khoa học có chất lượng bên cạnh việc giảng dạy. Ý kiến của giáo sư về vấn đề này thế nào?

- Trường đại học theo đúng nghĩa mà tiếng Anh gọi là University thì theo tôi, ta có không quá 10 trường đáng được gọi như vậy. Nếu nhìn lại lịch sử từ những năm 1970-1980, chúng ta cũng đã có từng đó trường thôi. Đội ngũ giảng viên, đồng thời là các nhà khoa học của những trường này chủ yếu được đào tạo ở nước ngoài. Do điều kiện kinh tế - xã hội, trong một giai đoạn dài họ không phát triển được hoạt động nghiên cứu. Cái mà họ có thể duy trì được là giảng dạy, và đó đã là một cố gắng lớn của họ rồi. 

Bây giờ mới là lúc chúng ta có thể nghĩ đến việc xây dựng lại nền giáo dục đại học mà trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học thực chất là yếu tố quyết định chất lượng. Vấn đề phải thảo luận ở đây là xây dựng lại như thế nào? 

Sở dĩ giảng viên đại học của chúng ta không nghiên cứu khoa học là vì họ không có điều kiện để nghiên cứu. Họ phải dạy quá nhiều. Một giáo sư ở châu Âu, nếu phải dạy một tuần chín tiết thì họ đã kêu trời rồi, vì họ cho như thế là dạy quá nhiều. Bình thường mỗi giáo sư chỉ dạy bình quân 4-6 tiết/tuần. Có thế chất lượng giảng dạy mới đảm bảo và họ mới có thời gian để nghiên cứu. Nhưng ở ta, bình quân mỗi giảng viên một học kỳ dạy 300 tiết, chia ra 15 tuần thì mỗi tuần 20 tiết... 

* 20 tiết/tuần là bằng định biên của một giáo viên phổ thông...

- Đúng thế. Nhưng các anh ở Bộ Tài chính lại bảo một người bình thường làm việc 40 tiếng/tuần, các anh dạy 20 tiết thì mới bằng nửa thời gian đi làm của người ta! Chấm hết!

Làm khoa học như làm xây dựng

* Dư luận đang sốt ruột vì các nước xung quanh đều có vẻ như đang vượt lên chúng ta. Nếu cứ phát triển theo nhịp điệu trước đây thì có vẻ mãi mãi chúng ta tụt hậu...
- Tôi nghĩ cái đó chúng ta hơi tự làm khổ mình. Mình cứ nghĩ xung quanh họ vượt mình, thật ra mình đã bao giờ bằng họ đâu mà cứ lo họ vượt mình. Từ trước đến nay mình có thể so mình được với ai? Lào hay Campuchia? Trước kia tôi cũng đi nước ngoài nhiều, nhưng toàn đến những nơi mình yên tâm là chắc chắn họ hơn mình nên cũng chẳng nghĩ ngợi nhiều.
Vừa rồi khi sang Đài Loan và Hàn Quốc thì tôi thất vọng hẳn, thấy cái sự “hơn” của họ xa quá, không biết đến bao giờ mình có thể tiệm cận họ. Dường như họ đang đi bằng ôtô mà mình vẫn đi bộ, lại còn chưa biết nên đi hướng nào! Mình cứ lo mình tụt hậu trong khi mình chưa bao giờ bằng họ cả. Vì vậy nếu đưa cái lý lẽ đó để đi vội thì tôi thấy không hợp lý.
Bây giờ phải lo làm sao để mình đừng đi xuống so với chính mình. Dường như trên đà vài chục năm nay, về tổng thể, nền giáo dục của mình đang đi xuống. Có thể quy mô và các con số thành tích ảo thì đi lên, nhưng rõ ràng chất lượng đang đi xuống.
* Nhiều người cho rằng Nhà nước nên đầu tư khôn ngoan hơn cho đại học. Cũng từng đó tiền nếu ta thu hẹp quy mô đầu tư thì hiệu quả sẽ cao hơn? Giáo sư nghĩ sao?

- Nói gì thì nói, trường đại học muốn mạnh thì điều đầu tiên là phải có thầy giỏi. Anh muốn trường đại học của anh ở tầm khu vực thì người thầy của anh phải đạt tầm khu vực. Nhưng để có thầy giỏi thì trước hết phải làm sao để thầy yên tâm nghiên cứu, giảng dạy. Nếu thầy còn phải loay hoay mưu sinh thì tôi nghĩ chẳng còn cách nào để vực nền giáo dục đại học lên được. 

Thứ hai, trường đại học đúng theo nghĩa thì phải có nghiên cứu. Mà nếu muốn nghiên cứu, anh không thể dạy quá nhiều được. Nhà nước quy định tỉ lệ sinh viên/giảng viên là đúng. Nhưng vì tôi tuyển ít sinh viên mà anh cấp cho tôi ít tiền thì cũng vô nghĩa. 

Tôi nghĩ đầu tư cho trường đại học theo số lượng sinh viên là cái vòng luẩn quẩn: anh bảo trường này là trường trọng điểm nhưng tiền anh lại đầu tư theo số sinh viên thì tôi không hiểu trọng điểm chỗ nào? Cuối cùng các thầy lại phải tìm dự án và rồi rất bận rộn vì phải viết báo cáo, làm đề án, bảo vệ đề án, nghiệm thu đề án... Để làm gì? Để hợp thức hóa thu nhập của mình. Cuối cùng tiền vẫn rót về, thầy vẫn được nhận từng ấy, nhưng phải giải trình để nhận được số tiền đó, thời gian giải trình hết cả năm học!

* Đấy có phải là lý do mà nhiều nơi tuy nhiều giáo sư, phó giáo sư, nhiều công trình nghiên cứu nhưng chất lượng nghiên cứu vẫn bị người ta kêu? 

- Chuyện một giáo sư có nghiên cứu hay không cũng do trách nhiệm của giáo sư đó nữa. Nếu nói rằng tôi mất nhiều thời gian quá để viết đề án, không còn thời gian nghiên cứu thì chỉ là ngụy biện. Nhưng mặt khác, khi thấy giáo sư A chỉ làm như thế mà ông ấy sống tốt thì giáo sư B sẽ cho rằng tại sao mình phải làm khác? Nếu anh quy trách nhiệm cho giáo sư cũng đúng nhưng nếu tất cả làm sai thì xử lý thế nào? 

Đến đây, điều cần làm là nhìn lại xem chính sách của mình hợp lý hay chưa! 

* Giáo sư cho là đang thiếu một chính sách quản lý, công cụ kiểm soát tốt?

- Tôi nghĩ là như thế. Thay vì một năm phải bắt bao nhiêu giáo sư đăng ký đề tài khống, đề tài ma mà kinh phí vẫn chừng đó thì anh hãy chuyển thành lương cho giáo sư! Nếu giáo sư nào làm không tốt thì anh thay, nhận người khác. 

Lẽ ra chi cho lương, ràng buộc bằng trách nhiệm thì giờ đây lại quản lý mọi thứ bằng hợp đồng. Chúng tôi làm khoa học vậy mà phải ký không biết bao nhiêu cái gọi là “hợp đồng nghiên cứu”! Cái gì cũng ra hợp đồng cả, cứ như làm xây dựng. Vài ba triệu cũng phải làm cái hợp đồng rất mất thời gian mà cuối cùng vẫn là kinh phí đó. 

* Nhưng thật ra tiền đầu tư cho khoa học có ít không, thưa giáo sư? 

- Tôi từng phát biểu tiền đầu tư cho khoa học không hẳn là ít, mà là không hiệu quả. Tôi chẳng thấy nước nào giáo sư thuộc thành phần giàu có trong xã hội mình đang sống cả. Những người làm khoa học đều xác định nếu muốn giàu có thì đừng làm nghề này. Tuy nhiên ở ta, nếu so với mặt bằng thu nhập của người dân thì nhiều giáo sư rất giàu. Nhưng họ vẫn kêu, vì họ thấy ông giáo sư bên cạnh giàu hơn và họ tìm cách để được giàu như thế. 

Cơ chế quản lý của mình bất cập ở chỗ đó, anh không cần làm khoa học đích thực mà chỉ làm cái này cái kia đã có tiền tỉ. Đề tài của ngành toán thường ít nhưng các ngành khác thì một đề tài làm trong một năm có kinh phí vài ba tỉ đồng không phải là hiếm. Nhưng cuối cùng chúng ta vẫn chẳng được mấy công trình cho ra hồn!

Đừng tự làm khổ mình

* Trong phát triển giáo dục đại học hiện nay có hai xu hướng cơ bản trái ngược nhau. Có ý kiến cho rằng phải duy trì nền đại học tinh hoa, nhưng cũng có nhiều người có quan điểm cần phải phát triển đại học đại chúng để đảm bảo tỉ lệ sinh viên/nghìn dân bằng được các nước trong khu vực...

- Đặt vấn đề dạy lớp 1 cho thật tử tế còn khó nữa là đòi hỏi tỉ lệ sinh viên/nghìn dân phải là bao nhiêu! Tỉ lệ sinh viên/ nghìn dân thấp chỉ có ý nghĩa duy nhất là bộc lộ một thực tế: dân trí của chúng ta thấp. Chúng ta không thể qua một đêm mà nâng dân trí lên được, cũng như không thể qua một đêm mà nâng tỉ lệ sinh viên lên nếu muốn có đông nhân lực trình độ đại học theo đúng nghĩa đích thực của nó. 

Mình có thể mở đại học ra khắp nơi nhưng vấn đề là chất lượng như thế nào? Không có nước nào trên thế giới mà giảng viên đại học lại không phải là tiến sĩ! Vì thế mà câu chuyện mở rộng đại học phải bắt đầu bằng việc đào tạo tiến sĩ. Nhưng như tôi phân tích ở trên, câu chuyện 20.000 tiến sĩ cho đến năm 2020 là không khả thi. Vậy thì chúng ta lấy đâu ra người mà dạy đại học? 

* Cho nên bàn về “đại chúng” hay “tinh hoa” trong bối cảnh này là vô nghĩa? 

- Là chưa hợp lý. Mình phải đảm bảo chất lượng tối thiểu của đào tạo đại học đã. Tất nhiên số lượng cũng sẽ tạo ra chất lượng nhưng không thể qua một đêm mà có được, nhất là chuyện trồng người thì người ta vẫn dùng đến đơn vị trăm năm... 

* Nhưng cá nhân giáo sư thì năm 2012 là một năm thành công đấy chứ! Thậm chí giáo sư còn được giới phóng viên giáo dục đồn thổi là người trốn báo chí thành công nhất? 

- (Cười) Tôi đang so sánh giữa thế hệ này với thế hệ khác chứ không phải nói về sự phát triển của một cá nhân. Về việc báo chí cứ tìm tôi khi tôi được phong giáo sư, tôi thật sự lấy làm lạ. Tôi không nghĩ mình đáng được nhiều người quan tâm và quan tâm nhiều đến thế. 

Tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu tại sao người ta lại gán cho tôi cái danh “giáo sư trẻ”? Việc các nhà khoa học khác được phong giáo sư năm nay nhiều tuổi hơn tôi hoàn toàn chỉ là một sự tình cờ. Anh Nguyễn Quang Diệu thua tôi bốn tuổi mà được phong giáo sư trước tôi một năm. Người ta cứ muốn xoáy vào những chuyện mà tôi thấy rất lạ lùng. 

Bình thường đọc những bài giáo sư trẻ nọ kia tôi đã không cảm thấy thích, giờ chính mình lại bị làm “chim mồi” thì tất nhiên là không thể chịu được rồi. Báo chí tìm đến, nói thật là tôi thấy rất khó xử. Nhiều khi tôi cũng muốn giúp các bạn nhà báo nhưng trong vụ “giáo sư trẻ” này tôi thấy mình thiệt thòi nhiều quá nên đành phải để cho mọi người thất vọng. 

* Xin cảm ơn giáo sư!
Nguồn: Tuổi Trẻ

23 tháng 3, 2013

,

Cái giá của sự bất công bằng (Về giai cấp “siêu giàu” mới nổi)


Một trong những sự kiện gây nhiều phản ứng trên thế giới trong vài năm gần đây (nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008) là sự phân hoá thu nhập ngày càng rộng ra ở một số quốc gia, cụ thể là Trung Quốc, Nga, Brazil, Ấn Độ, và ngay cả Mỹ. Thiểu số giàu có thì càng giàu hơn cực nhanh, đến độ “khủng”, còn đa số trung lưu và nghèo thì hoặc là chững lại, hoặc là nghèo hơn. Ở Mỹ chẳng hạn, trong hai năm 2009-2010, khi mà thu nhập bình quân của 99% gia đình Mỹ chỉ tăng lên 0,9% thì thu nhập của 1% giàu nhất tăng lên 11,6%! Một điều đáng lưu ý nữa là trong năm quốc gia có nhiều tỷ phú (đô la) nhất thế giới (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Đức, Ấn Độ) thì hai nước vẫn còn tự xưng là “xã hội chủ nghĩa”, và hai nước vẫn còn được xem là đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ).

Sự gia tăng bất công bằng thu nhập này đã gây ra nhiều làn sóng công phẫn ở các quốc gia liên hệ, không những từ thành phần xã hội bị “bỏ lại phía sau”, như phong trào “chiếm Wall Street” ở Mỹ năm 2011, và nhiều hội đoàn tiến bộ khác, mà còn được sự chú ý của nhiều học giả, nhà nghiên cứu nổi tiếng (ví dụ như nhà kinh tế Joseph Stiglitz,[1] nhà báo Timothy Noah,[2] Chrystia Freeland[3]...). Nhiều bình luận gia (ví dụ như Jonathan Chait) cho rằng cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa qua có biểu hiện của một “chiến tranh giai cấp” trong đó giai cấp trung lưu và nghèo của Mỹ mà đại diện là Obama đã đánh bại giai cấp cực giàu của Mỹ mà Romney là đại diện.

Tại sao có những người “siêu giàu”?

Chủ đích bài này không là những người đã cực giàu từ lâu (như các vua chúa ở các vương quốc dầu hoả Á Rập, hay những lãnh tụ độc tài ở một số quốc gia). Ngoài ra, cũng phải nhìn nhận rằng nguồn gốc của những người siêu giàu mới nổi ở mỗi nước một khác.[4]  Tuy nhiên, nói chung, vài lý do chính (mà độ chính xác sẽ được thẩm định) của sự xuất hiện những người “siêu giàu” thường được viện dẫn là như sau:

Ở một thái cực, một số (tương đối rất ít) trở thành siêu giàu vì tài năng (kể cả tài tổ chức), sáng kiến xuất chúng (có thể thêm chút may mắn) của họ. Đây là cách giải thích của kinh tế học hàn lâm chính thống phương Tây. Nói đến những người này thì ta nghĩ ngay đến những nhân vật nổi tiếng như Bill Gates, Steve Jobs, Mark Zuckerberg... Ở thái cực đối nghịch là những người siêu giàu nhờ những hoạt động bất hợp pháp (tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu..)

Song nhìn kỹ thì cách phân loại trắng đen như trên là chưa đủ ngọn ngành. Như Stiglitz cho thấy, tài sản kếch xù của Bill Gates, chẳng hạn, không phải chỉ nhờ vào tài năng (dù quả là xuất chúng) của ông ta nhưng phần lớn là nhờ vào vị trí độc quyền (hoặc hầu như độc quyền) của công ty Microsoft sau khi ông thành lập nó. Chính sự độc quyền này đã đưa Bill Gates từ hạng cực giàu lên hàng cực siêu giàu. Công ty Apple của Steve Jobs cũng thế. Mỗi năm những công ty này bỏ ra hàng tỷ đô la trong các vụ kiện tụng để giữ độc quyền cho một sản phẩm nào đó (kể cả bằng sáng chế) của họ. Tất nhiên, những hoạt động này là hoàn toàn hợp pháp, song chúng chứng tỏ họ đã nhân tài sản của họ lên hàng trăm, hàng nghìn lần bằng cách lợi dụng, khai thác (những khe hở) thể chế và luật pháp, thậm chí uốn nắn thể chế và pháp luật (qua việc “lobby”) theo hướng có lợi cho họ.

Mặt khác, khách quan mà nói, cũng phải công nhận rằng những người siêu giàu nhờ tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu, cũng có một cái tài nào đó, dù cái “tài” ấy chỉ là những mánh khoé luồn lách pháp luật, mua chuộc quan chức, lập vây cánh, khuynh đảo thị trường. Một điều nữa là dù tài sản này có nguồn gốc bất chính, những người (tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu...) này (hoặc gia đình họ) đã “rửa” tài sản ấy qua những hoạt động kinh doanh hợp pháp (nhất là bất động sản, ngân hàng). Nói khác đi, nhìn thoáng qua tài sản của nhiều người “siêu giàu” hiện nay thì có thể cho rằng nó hợp pháp, nhưng nếu truy ngược về quá khứ thì nguồn gốc của nó là phi pháp. Tài sản đã là khá to lớn từ những hoạt động rõ ràng là phi pháp đã được nhân ra hàng trăm, hàng nghìn lần qua những hoạt động hợp pháp, biến họ từ những người giàu phi pháp thành những người siêu giàu hợp pháp... Đi sâu thêm một bước, thử xem cách thức mà những người này “nhân” ra những tài sản ấy là ra sao? Đại đa số là nương nhờ vào những quan hệ cá nhân, những lỗ hổng trong luật pháp. Đó là không nói đến việc chính họ có thể chủ động “lobby” để nhà nước ra những luật lệ có lợi cho họ. Như Stiglitz nhận xét, dù ngoài mặt thì những thế lực kinh tế đã tạo nên sự bất công bằng thu nhập, nhưng chính chính sách của nhà nước đã tạo nên các thế lực kinh tế ấy. Phần lớn sự bất công bằng hiện nay là hậu quả của những gì mà nhà nước đã làm, và cũng là hậu quả của nhiều việc mà nhà nước không làm.

Một nguồn gốc nữa của sự siêu giàu là do tích cực khai thác sự thiếu kém thông tin của đa số những người khác. Chẳng hạn như giới ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản ở Mỹ đã trở nên cực giàu nhờ “nghĩ ra” những công cụ tài chính, bảo hiểm, những loại chứng khoán vô cùng phức tạp, không ai hiểu nỗi.[5]

Cũng nên để ý rằng các nguồn gốc khác nhau của sự “siêu giàu” này có “liên hệ hữu cơ” với nhau, đặc biệt là với tham nhũng: trong nhiều trường hợp, tham nhũng cho một cái “vốn” để những người giàu trở thành cực giàu (một cách hợp pháp). Và chính những người cực giàu này khuyến khích, mớm đút, tạo cơ hội tham nhũng ở những người khác.

Gần đây ở Việt Nam hai ý niệm “tham nhũng” và “nhóm lợi ích” thường được ghép chung. Điều này không hoàn toàn đúng. Theo nguyên ngữ thì “nhóm lơi ích” là một tập họp của những người có cùng quyền lợi kính tế, hợp lực với nhau để bảo vệ, tranh đấu cho quyền lợi ấy. Đó là một hiện tượng đương nhiên, tự nó không có gì là xấu (chẳng hạn, xét cho cùng, công đoàn để bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cũng là một nhóm lợi ích chứ gì?). Song khi các nhóm lợi ích thông đồng, cấu kết với tham nhũng ̶ trong đó tham nhũng dựa vào đòn bẫy của nhóm lợi ích để tác động đến nền kinh tế, đến xã hội, và vâng, đến thể chế chính trị nữa.. .̶ thì sự nguy hại của tham nhũng được nhân lên nhiều lần. Không những thế, khi tham nhũng có được một nhóm lợi ích làm hậu thuẫn thì dù vài cá nhân tham nhũng có sa vào vòng lao lý, nhóm lợi ích đàng sau những người ấy vẫn còn đó, tác hại của nó vẫn tiếp tục.

Kinh tế thị trường là một trò chơi cực kỳ phức tạp và những người thắng cuộc chơi ấy hẵn là khôn lanh ít nhiều hơn người khác. Song những người thắng cuộc cũng thường có những bản chất không đáng ngưỡng mộ: khả năng luồn lách pháp luật, hoặc uốn nắn pháp luật theo cách có lợi cho họ, sự sẵn sàng lợi dụng kẻ khác – ngay cả những người nghèo; và chơi những trò “bẩn”, nếu cần.

Ảnh hưởng kinh tế của sự cực giàu

Cho đến gần đây, khi bàn về vấn đề chênh lệch thu nhập, giới kinh tế chính thống thường chỉ nói đến ảnh hưởng của nó đến tốc độ tăng trưởng vĩ mô. Những người theo phái thị trường tự do (hay “tân phóng khoáng” – neoliberalism) thì cho rằng bất công bằng thu nhập, dù tự nó không phải là tốt, là đáng cổ vũ, cũng là một tiền đề khó tránh của một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh: những nguời giàu sẽ có xu hướng đầu tư nhiều hơn... Nói cách khác, dù tầng lớp cực giàu có tích tụ tài sản của họ cách nào đi nữa (miễn là hợp pháp) thì họ cũng có ích cho xã hội vì nhờ họ mới có đầu tư, tạo công ăn việc làm cho lao động, đầu tàu cho sự tăng trưởng của cả nước. Chẳng những mức độ tài sản của họ là có ích cho xã hội, sự chênh lệch thu nhập cũng là cần thiết để phát triển bởi nó tạo động lực cho lao động (cả tay chân lẫn trí tuệ). “Cào bằng” thu nhập thì còn đâu những khuyến dụ (incentive) để nỗ lực làm việc? Nói cách khác, theo những người này, có sự đánh đổi không thể tránh giữa “hiệu quả kinh tế” và “công bằng thu nhập”.

Có ba cách phản biện quan điểm này.

Một là, quan điểm ấy dựa trên giả định là nền kinh tế có sự cạnh tranh hoàn hảo: ngay khoa kinh tế học chính thống cũng đã chứng minh từ lâu rằng chỉ trong một nền kinh tế như thế thì lợi ích cá nhân mới trùng hợp với lợi ích cộng đồng (nghĩa là, người thu được lợi ích cá nhân cũng đem lại lợi ích cho tập thể). Trên thực tế, không nền kinh tế nào có một sự “cạnh tranh hoàn toàn” như thế: những sự méo mó (như độc quyền, chẳng hạn) sẽ khiến lợi ích cá nhân lớn hơn lợi ích tập thể, và những người theo đuổi lợi ích cá nhân không hẵn sẽ có ích cho tập thể. Nói rộng ra, trong một nền kinh tế bị “méo mó” vì những “hoạt động tìm lợi nhuận trên bình thường” (rent seeking activity) thì những người được hưởng những khoản tư lợi khổng lồ không nhất thíết là những người có đóng góp lợi ích tương ứng cho tập thể.

Hai là, nhiều nhà tâm lý học, nhà khoa học xã hội (và thậm chí một số nhà kinh tế học) đã điều tra cặn kẽ để tìm xem cái gì là động lực lao động của con người, và họ khám phá rằng, ít nhất là trong nhiều trường hợp, giới kinh tế gia đã lầm khi cho rằng thu nhập là động cơ duy nhất. Đa số chúng ta thường làm việc hăng say hơn khi được thúc đẩy bởi những động lực nội tại (chẳng hạn như sự mãn nguyện khi làm một việc gì đó một cách hoàn hảo) hơn là bởi những phần thưởng đến từ bên ngoài (như lương tiền). Lấy một ví dụ, trong hai thế kỷ vừa qua, hầu hết các nhà khoa học góp phần nâng cao đời sống của nhân loại không phải vì họ theo đuổi tiền tài. Đó là điều may mắn cho chúng ta, bởi nếu những người xuất chúng ấy theo đuổi tiền tài thì họ đã trở thành chủ ngân hàng, kinh doanh bất động sản, mà không là nhà khoa học. Chính sự say mê tìm tòi chân lý, niềm vui của hoạt động trí tuệ, hạnh phúc tuyệt vời của khám phá, phát minh – và, vâng, sự ngưỡng mộ của đồng nghiệp ̶ là quan trọng nhất đối với các nhà khoa học.

Ba là, ngay trong trường hợp mà “thù lao” của những người cực giàu (nhất là trong giới tài chính, ngân hàng) là “kỷ lục” với lý do rằng mức độ thù lao ấy là cần thiết để những người này “cố gắng” hơn, nhiều nghiên cứu đã phát giác rằng cái “gói thù lao” kếch xù (làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng trong xã hội) đang được các đại công ty, các ngân hàng, quỹ đầu tư áp dụng, đã khiến những người này có những quyết định làm méo mó hơn, thay vì gia tăng hiệu quả của nền kinh tế. Kinh tế học đã chứng minh rằng, vì thông tin và giám sát không bao giờ là đầy đủ, rất khó (gần như không thể) thiết kế một “gói thù lao” tối hảo (nhìn từ quan điểm quyền lợi cổ đông, đừng nói chi đến lợi ích toàn xã hội) cho lãnh đạo các ngân hàng, giám đốc các đại công ty.

Ngoài những tác động (có thể gọi là vi mô) nói trên, sự cực giàu của một thiểu số còn có những ảnh hưởng vĩ mô tai hại: nó sẽ bóp méo tỷ lệ các loại hàng nhập khẩu. Những người cực giàu, với sức mua lớn, sẽ làm tăng nhu cầu nhập khẩu những món hàng xa xỉ (xe xịn, hàng hiệu).[6] Việc này sẽ làm giảm giá trị nội tệ, và làm mắc hơn những loại hàng nhập khẩu mà đa số người tiêu dùng là có thu nhập thấp.

Ảnh hưởng xã hội của tầng lớp “siêu giàu” mới nổi

Đối với một số chế độ (như ở Trung Quốc) thì tình trạng cực kỳ bất bình đẳng có một hậu quả tai hại duy nhất là gây bất ổn trong xã hội, hăm doạ sự tồn tại của chế độ ấy. Nhận định này là đúng nhưng chưa đủ

● “Thu nhập tương đối” và “hạnh phúc con người”
Gần đây, một số nghiên cứu đã phát hiện rằng hạnh phúc con người còn tuỳ vào thu nhập tương đối (ngoài mức thu nhập tuyệt đối để thoả mãn những nhu cầu sinh tồn). Thu nhập càng chênh lệch thì những người có thu nhập trung bình, hoặc thấp, càng thấy “kém hạnh phúc”. Tình trạng này càng trầm trọng khi những người có thu nhập cao lại thích phô trương, hào nhoáng, khiến những người có thu nhập kém hơn họ phải ganh tỵ, thèm muốn.

Một ảnh hưởng nữa là ở cơ hội tiến thủ của những người xuất thân từ gia đình có thu nhập thấp: Họ sẽ thất vọng, nản chí khi thấy rằng chỉ con cái nhà giàu là có nhiều cơ hội học trường giỏi (và nếu nước họ là chậm tiến thì sẽ được xuất ngoại du học). Sau khi tốt nghiệp thì những “con cái nhà giàu” này tất nhiên sẽ ưu tiên có những địa vị béo bở trong xã hội, cho họ cơ hội làm giàu thêm. Cứ như thế, sự bất bình đẳng trong xã hội sẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

● Bất bình đẳng thu nhập và đời sống văn hoá
Trong một xã hội cực kỳ bất bình đẳng, và nhất là khi tài sản của những người cực giàu là phi pháp, hoặc những người này thiếu căn bản văn hoá, phô trương sự giàu có của mình một cách vô ý thức, thì đời sống văn hoá của toàn xã hội cũng sẽ bị xấu đi: Những lối ăn chơi phù phiếm, sa đoạ, xa xỉ, đua đòi hàng hiệu nhập khẩu (nhất là khi lối sống này không bị kết án mà còn được các phương tiện truyền thông đại chúng quảng bá, trầm trồ ngợi khen), sẽ cuốn hút toàn thể xã hội vào con đường ấy, ngày càng lệch xa những lối sống văn minh thật sự.

Phải làm gì?

Có những người cực đoan cho rằng sự xuất hiện của tầng lớp siêu giàu mới nổi là một hiện tượng tự nhiên, thậm chí có lợi cho xã hội, và những ai chống lại hiện tượng này chỉ là những kẻ ganh tỵ xấu nết... Theo những người cực đoan này, nhà nước không cần làm gì cả. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, hiện tượng siêu giàu mới nổi không phải là “tự nhiên” mà là hậu quả của sự khôn lanh khai thác những “lỗ hổng” của thể chế, của nền kinh tế, và gây nhiều hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho chính sự phát triển của quốc gia, và rộng ra là cho mức độ an sinh của tuyệt đại đa số trong xã hội.

Đàng khác, không ai có thể khách quan mà nghĩ rằng thu nhập của mọi người trong xã hội đều phải như nhau. Một sự bất bình đẳng thu nhập nào đó là không thể tránh, thậm chí cần thiết. Vấn đề ở đây là sự xuất hiện một thiểu số cực giàu, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, mà thu nhập dù hiện tại có là hợp pháp, đã vượt quá xa tài sức và sự đóng góp của họ cho xã hội.

Hầu hết các nhà lãnh đạo trên thế giới, từ tổng thống Mỹ Barack Obama đền nguyên tổng bí thư Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, đếu ít nhiều nghĩ rằng nhà nước cần can thiệp để làm giảm sự bất bình đẳng thu nhập trong xã hội. Một chính sách cấp thời có thể là tăng suất thuế đánh vào người giàu (như ông Obama hiện đề nghị). Tuy nhiên, như đã trình bày trong bài này, một chính sách dài hạn phải là chấn chỉnh những méo mó kinh tế (ưu tiên gỡ bỏ những độc quyền, đặc lợi, chế độ “xin/cho”, và tạo một sân chơi bình đẳng cho mọi người). Sự tái cấu trúc thể chế này sẽ cực kỳ khó khăn vì chắc chắn nó sẽ gặp sự kháng cự mãnh liệt, công khai lẫn ngấm ngầm, của giai cấp cực giàu hiện hữu (cấu kết thành các “nhóm lợi ích”) với những thế lực tài chính, kinh tế, và vâng, chính trị nữa, vô cùng to lớn của họ. Một sự tái cơ cấu như thế chỉ có thể thành công nếu nó không bị ảnh hưởng của bất cứ nhóm lợi ích nào, nhất là trong một thực trạng mà những nhóm lợi ích ấy lại “tay trong tay” với tham nhũng.

Trần Hữu Dũng
21/12/2012

[1] Joseph Stiglitz, 2012, The Price of Inequality: How Today's Divided Society Endangers Our Future, New York: Norton

[2] Timothy Noah, 2012, The Great Divergence: America's Growing Inequality Crisis and What We Can Do about It, New York: Bloomsbury Press.

[3] Chrystia Freeland, 2012, Plutocrats: The Rise of the New Global Super-Rich and the Fall of Everyone Else, New York: Penguin

[4] Một cuốn sách thú vị về tầng lớp siêu giàu mới nổi ở Nga là The Oligarchs: Wealth And Power In The New Russia của David Hoffman (New York: PublicAffairs, 2002)

[5] Tương truyền rằng chính ông Ben Bernanke, chủ tịch Fed của Mỹ, lúc mới nhậm chức cũng không hiểu nỗi tất cả những công cụ này, phải mời một chuyên viên ngân hàng đến giải thích cho ông!

[6] Nếu nhà nước cấm nhập khẩu chính thức những loại hàng này thì họ sẽ nhập khẩu qua những kênh bất hợp pháp, tạo thêm cơ hội cho tham nhũng.

Nguồn: Việt-Studies
, , ,

Tinh thần khai phóng


Bài viết này chia sẻ một vài suy nghĩ về một nền giáo dục khai phóng và một nền chính trị khai phóng- các điều kiện cho sự hình thành tinh thần khai phóng cho các thành viên trong xã hội.
Một nền giáo dục khai phóng

Muốn cho các thành viên trong xã hội có được tinh thần khai phóng thì điều kiện trực tiếp là phải có một nền giáo dục khai phóng.

Thời gian gần đây khái niệm “giáo dục khai phóng” được sử dụng nhiều. Có lẽ những người đầu tiên dùng nó đã mượn hoặc dịch từ khái niệm của Paulo Freire: “éducation libératrice”. Đây là một giả định, bởi muốn khẳng định phải có các khảo cứu cần thiết mà người viết bài này hiện tại chưa thực hiện được.

Khái niệm “éducation libératrice” được Freire tường giải trong cuốn Pédagogie des opprimés (tôi dựa vào bản tiếng Pháp, vì không có khả năng đọc bản gốc bằng tiếng Bồ Đào Nha). Ở đây tôi chỉ tập trung vào một vài điểm của cuốn sách.

“Không ai giáo dục người khác, không ai tự giáo dục chính mình, mọi người cùng giáo dục lẫn nhau, thông qua trung gian của thế giới” - Paulo Freire. Một đường lối giáo dục như vậy không cho phép tồn tại phương pháp truyền thụ - tiếp nhận, nó có phương pháp riêng của nó: đối thoại - phương thức để thực hiện sự giải phóng con người.
Nhan đề cuốn sách có nghĩa là: giáo dục học của những kẻ bị áp bức. Đó là loại giáo dục học dành cho những người không chấp nhận chịu áp bức, “những người dấn thân vào cuộc đấu tranh để giải phóng chính họ”. Chữ “opprimé” của Freire phải được hiểu theo nghĩa đó, những kẻ bị áp bức có sứ mệnh giải phóng cho chính mình và cho cả những kẻ đi áp bức. Bởi vì, những kẻ áp bức, dù có đủ quyền lực và bạo lực, không thể tìm thấy sức mạnh để giải phóng cho chính họ và giải phóng cho những kẻ bị áp bức. Sức mạnh giải phóng thuộc về những kẻ bị áp bức, và sức mạnh đó đủ để khai phóng cho cả kẻ bị áp bức lẫn kẻ áp bức. Và khai phóng ở đây là khai phóng cho các tiềm năng của con người, khai phóng cho các năng lực tiềm tàng của con người. Quan niệm này dẫn tới sự hình thành ý tưởng về một nền giáo dục khai phóng trong đó vai trò của các thành phần tham gia quá trình giáo dục thay đổi một cách căn bản: giáo viên không còn chỉ đóng vai trò duy nhất là nhà giáo dục, học sinh không còn chỉ đóng vai trò duy nhất là người được giáo dục; mà trong quá trình giáo dục vai trò của hai bên có thể được hoán đổi cho nhau, giáo viên và học sinh cùng giáo dục lẫn nhau. Tinh thần này thể hiện trong mệnh đề nổi tiếng của Freire: “Không ai giáo dục người khác, không ai tự giáo dục chính mình, mọi người cùng giáo dục lẫn nhau, thông qua trung gian của thế giới”. Một đường lối giáo dục như vậy không cho phép tồn tại phương pháp truyền thụ - tiếp nhận, nó có phương pháp riêng của nó: đối thoại. Đối thoại chính là phương thức để thực hiện sự giải phóng con người. Hoạt động dạy học trở thành hoạt động đối thoại. Chỉ với đối thoại học sinh mới có thể ngừng là đối tượng để trở thành chủ thể, trở thành trung tâm của quá trình giáo dục. Từ quan điểm này ta sẽ thấy, dù chúng ta có tuyên bố hàng nghìn lần trên đủ mọi phương tiện truyền thông rằng chúng ta đang thực hiện một nền giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, nhưng nếu chúng ta không cho phép học sinh, sinh viên trình bày suy nghĩ riêng của họ, kể cả những suy nghĩ đó có thể đối lập với bài giảng của giáo viên, thì lúc đó vẫn chưa thể có chuyện học sinh là trung tâm. Khi quá trình giảng dạy còn chưa phải là một quá trình đối thoại, và giáo viên chưa phải là người tổ chức đối thoại và chưa trở thành đối tượng đối thoại với học sinh, sinh viên, thì vẫn chưa thể nói tới giáo dục khai phóng. Và lúc đó, chúng ta lấy cơ sở nào để hy vọng rằng có tinh thần khai phóng ở giới trẻ ?

Theo tôi, chữ “khai phóng” là chữ rất hay. Tất cả chúng ta nợ người đầu tiên sử dụng khái niệm này để chuyển dịch hay để nghiên cứu. Từ “libérateur/libératrice” trong tiếng Pháp dùng để gọi người giải phóng, khi là tính từ nó dùng để chỉ hành động giải phóng: éducation libératrice có nghĩa là nền giáo dục giải phóng cho con người. Từ “khai phóng” trong tiếng Việt có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn. Tôi chiết tự từ “khai phóng” để hiểu từ này như là một kết hợp của hai nghĩa: khai minh và giải phóng. Dĩ nhiên đây chỉ là cách hiểu của cá nhân tôi. (Cũng có thể hiểu yếu tố “khai” là “khai mở”, “giải tỏa”, và theo nghĩa này thì nó có nét nghĩa chung với yếu tố “phóng”).
Muốn đạt tới việc tự giải phóng cho bản thân mình và giải phóng cho người khác, trước hết con người phải được khai minh. Và khai minh ở đây được hiểu theo nghĩa của Kant: có khả năng sử dụng trí tuệ của mình một cách độc lập. Và muốn có thể độc lập sử dụng trí tuệ của mình thì phải có hai điều: tri thức và sự dũng cảm. Sau Kant, càng ngày nhân loại càng hiểu rõ vai trò của tri thức. John Dewey, nhà giáo dục học nổi tiếng của Mỹ, có trách cứ khiếm khuyết trong chương trình lịch sử phổ thông (dĩ nhiên, nhận xét của ông nhằm vào sách giáo khoa thời đại ông): “Trong lịch sử phổ thông có lẽ lịch sử tri thức là ngành lịch sử bị bỏ quên nhiều nhất. Chúng ta chỉ mới bắt đầu hiểu ra rằng các anh hùng vĩ đại đem lại sự tiến bộ cho số phận của nhân loại KHÔNG PHẢI LÀ (tôi nhấn mạnh – NTTH) các chính trị gia, các vị tướng, các nhà ngoại giao, MÀ HỌ LÀ (tôi nhấn mạnh – NTTH) các nhà phát minh và sáng chế khoa học, những người đã đặt vào tay con người những phương tiện của một kinh nghiệm đang phát triển và được kiểm soát, và các nghệ sĩ và thi nhân, những người đã ngợi ca những cuộc tranh đấu, những chiến thắng, và thất bại của nhân loại bằng thứ ngôn ngữ nào đó, dù là ngôn ngữ hình ảnh, tạo hình hoặc chữ viết, khiến tất cả những người khác đều có thể cùng sử dụng được ý nghĩa của chúng”1 Một trong những vai trò của tri thức, mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó là nó tạo điều kiện cho sự hình thành tinh thần khai phóng. Và giáo dục khai phóng không chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt tri thức, mà, như trên đã nói, nó còn có sứ mệnh chuẩn bị cho học sinh khả năng tạo ra tri thức.

Một nền chính trị khai phóng

Muốn có được một nền giáo dục khai phóng thì điều kiện trực tiếp là phải có một nền chính trị khai phóng.

Dĩ nhiên ở đây tôi không có một khái niệm nào (chẳng hạn như “politique libératrice”) để dựa vào. Bằng cụm từ “nền chính trị khai phóng” này tôi muốn nói tới một hình thức chính trị, một hình thức tổ chức, điều hành xã hội cho phép các cá nhân giải phóng và phát triển các năng lực của họ, tôi muốn nói tới một nền chính trị không kìm hãm con người và không kìm hãm sự phát triển của xã hội. Trong tất cả các hình thái chính trị mà nhân loại đã biết cho tới hiện nay, ta thấy một nền chính trị dân chủ và tiến bộ có khả năng đảm bảo sự khai phóng cho con người trên diện rộng, tức là sự khai phóng ở cấp độ cả cộng đồng. Tôi không phải là nhà tiên tri, nên không biết trong tương lai liệu loài người có thể đạt tới hình thái nào khác tối ưu hơn hình thái dân chủ để điều hành xã hội một cách có hiệu quả và đảm bảo tính nhân bản, đảm bảo cho tự do của con người. Tôi dẫn ra đây nhận định của John Dewey: “Một xã hội tiến bộ bao giờ cũng trân trọng những khác biệt cá nhân bởi nó tìm thấy ở đó phương tiện cho sự tăng trưởng của chính nó. Vì thế, một xã hội dân chủ, phù hợp với lý tưởng của nó, bắt buộc phải cho phép tự do trí tuệ và sự phát huy các năng khiếu và hứng thú đa dạng tồn tại trong các biện pháp giáo dục.”2

“Một xã hội tiến bộ bao giờ cũng trân trọng những khác biệt cá nhân bởi nó tìm thấy ở đó phương tiện cho sự tăng trưởng của chính nó. Vì thế, một xã hội dân chủ, phù hợp với lý tưởng của nó, bắt buộc phải cho phép tự do trí tuệ và sự phát huy các năng khiếu và hứng thú đa dạng tồn tại trong các biện pháp giáo dục”. John Deway
Như vậy, tự do trí tuệ và tự do phát triển các năng lực cá nhân là điều kiện cho sự tăng trưởng của toàn xã hội. Tự do trí tuệ là điều kiện cho sự tiếp thu và sáng tạo tri thức; tiếp thu và sáng tạo tri thức chính là hoạt động khai phóng. Nếu chúng ta không hiểu được điều này, không biến sự hiểu biết này thành các chính sách, các chương trình hành động cụ thể, thì khó mà có thể nói đến sự tăng trưởng hay sự phát triển của xã hội. Nếu không có một nền chính trị cho phép tồn tại và phát triển nền giáo dục khai phóng, cho phép tự do trí tuệ, tự do chiếm lĩnh và sáng tạo tri thức, thì các điều kiện cho sự phát triển bền vững sẽ không hình thành được. Vì các điều kiện đó hình thành trên nguồn lực con người. Một nền chính trị thiếu dân chủ sẽ thủ tiêu các năng lực, các tiềm năng sáng tạo của con người. Đó là căn nguyên sâu xa nhất của mọi sự trì trệ, lạc hậu, kém phát triển, yếu kém, lệ thuộc.

Trong một nền chính trị thiếu dân chủ, khi nhà trường trở thành công cụ tuyên truyền cho các đường lối mang tính áp đặt, thì dĩ nhiên phương thức đối thoại ít có cơ may được sử dụng, hoặc đối thoại chỉ mang tính hình thức, vì rốt cuộc các trao đổi, nếu có, cũng chỉ dẫn tới việc sinh viên buộc phải chấp nhận các kết luận mang tính áp đặt của giáo viên. Một nền giáo dục mang tính áp đặt, khó mà có thể phát triển tư duy cho học sinh, cùng lắm chỉ có thể giúp phát triển các năng lực nhớ trong não bộ của học sinh. Trong lúc đó, từ lâu, từ thế kỷ XIX, với John Dewey, học đã không còn là học thuộc lòng, không còn là tích lũy kiến thức, mà “học tức là học tư duy”. Mục đích của giáo dục là hình thành các năng lực tư duy. Mục đích đó chỉ đạt được khi đối tượng của tư duy là thực tại, là những gì gắn với đời sống của người tư duy. John Dewey viết: “Nếu tư duy chẳng liên quan gì đến điều kiện có thực và nếu nó không xuất hiện một cách hợp lo-gich từ những điều kiện này để đi tới sự suy tưởng về mục đích phải đạt được, khi ấy con người sẽ không bao giờ phát minh, hoặc không bao giờ lên kế hoạch, hoặc không bao giờ biết cách nào để thoát khỏi bất kỳ sự rắc rối hay khó khăn nào. Như chúng ta đã lưu ý, nhờ những yếu tố cố hữu lẫn sức ép của hoàn cảnh mà tư duy có những đặc tính lo-gich hoặc đặc tính của tư duy đích thực”.3

Như vậy, rõ ràng đặc tính của tư duy đích thực chỉ hình thành khi tư duy cọ xát với các vấn đề của thực tại, mà John Dewey gọi là “điều kiện có thực”. Nếu một nền chính trị, thông qua trường học, không cho phép học sinh sinh viên đối chiếu kiến thức sách vở với thực tế của họ, không cho phép họ dùng các kiến thức sách vở để suy nghĩ về các vấn đề có thực của đời sống, thì học sinh sinh viên sẽ không thể phát triển tư duy. Hệ quả là dù có trải qua bao nhiêu năm trên ghế nhà trường đi nữa, dù có các bằng cấp cao đến mấy đi nữa, thì những con người bị đào tạo bởi một nền giáo dục áp chế, trong một nền chính trị áp chế, sẽ không thể có phát minh, như Dewey nhận xét, sẽ không có khả năng giải quyết các khó khăn, không có khả năng giải quyết các vấn đề do thực tại đặt ra. Chúng ta có thể kiểm chứng kết luận này, mà John Dewey đã nêu ra cách đây cả thế kỷ, bằng hiện thực của chúng ta ngày hôm nay, cái hiện thực về sự lúng túng của toàn bộ cộng đồng chúng ta trong việc giải quyết các vấn nạn của xã hội. Sự lúng túng này là dấu hiệu bộc lộ sự yếu kém chung của chúng ta, là dấu hiệu chứng tỏ các năng lực người của chúng ta bị cạn kiệt, chứng tỏ năng lực tư duy của chúng ta suy yếu. Chúng ta rất đông về dân số, nhưng so với một cộng đồng ít ỏi như Singapore, chúng ta quả thật là kém họ trên rất nhiều phương diện. Các năng lực tiềm tàng của chúng ta không thua kém họ, tôi tin là như vậy. Nhưng các năng lực đó đã không được khai phóng để tạo thành sức mạnh. Chúng ta nên làm cái thao tác kiểm chứng này để hiểu tại sao cần một nền giáo dục khai phóng và một nền chính trị dân chủ, không phải cho ai khác, mà cho chính mỗi chúng ta, cho con cháu chúng ta và cho tương lai của cả xứ sở này. Chúng ta cần phải nhìn vào tương lai để điều chỉnh những cách vận hành của hiện tại, bởi nếu chúng ta không điều chỉnh hiện tại này thì có nguy cơ sẽ đánh mất tương lai. Tôi dẫn lại ở đây ý kiến của Dewey: “Con người không dùng hiện tại để kiểm soát tương lai. Con người dùng sự nhìn thấy trước tương lai để điều chỉnh và mở rộng hoạt động hiện tại. Sử dụng sự ham muốn, sự suy nghĩ và lựa chọn theo cách này, tự do được hiện thực hóa”.4

Trên đây là các điều kiện (dĩ nhiên chưa đầy đủ), theo tôi, để hình thành tinh thần khai phóng cho các thế hệ, trên phạm vi rộng. Thiếu các điều kiện đó thì hậu quả là cộng đồng sẽ không được khai phóng. Tuy nhiên, đối với các cá nhân thì không hẳn. Trong một môi trường không có cả giáo dục khai phóng lẫn chính trị khai phóng ta thấy vẫn có các cá nhân được khai phóng. Nhưng chúng tôi sẽ không đề cập đến vấn đề này trong phạm vi bài viết này, ngoại trừ một điều: môi trường càng thiếu vắng các điều kiện cho sự khai phóng cộng đồng, thì lại càng cần có các cá nhân có tinh thần khai phóng. 

--------------------------------------------------------------------------------
 
1 John Dewey, Dân chủ và giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Tri Thức, 2008, tr. 257.
2 Dân chủ và giáo dục, sđd, tr. 361.
3 John Dewey- Về giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Trẻ & Dtbooks, 2012, tr. 343.
4 John Dewey- Về giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Trẻ & Dtbooks, 2012, tr. 156