Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

23 tháng 3, 2013

, , , , ,

4 Dấu hiệu cho thấy Chính quyền Việt Nam đang Nghiền nát “Cuộc Cách mạng Truyền thông Xã hội” trong nước

Vietnamese students surf the Internet at a cafe in Hanoi March 18, 2004. (Reuters)
Đảng Cộng sản đã đối phó với với sự tăng trưởng của blogging chống nhà nuớc bằng một cuộc đàn áp đáng lo ngại

Sau hơn một năm tạm giam, năm blogger độc lập trong số những nhà hoạt động khác phải đối diện với một phiên tòa Việt Nam trong vòng hai ngày vào tháng Giêng để nghe thụ án lên đến 13 năm hoặc hơn. Họ gia nhập đội quân blogger bị cầm tù vì "những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân", "phá hoại đoàn kết dân tộc" và"tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Các nhà viết blog Việt Nam đã nếm mùi tự do của Internet trong vòng chục năm vừa qua khi mà truy cập trực tuyến gia tăng. Thế nhưng truyền thông xã hội không phải là thứ làm thay đổi cuộc chơi ở một nước đa nghi. Với sự pha trộn giữa bất an và quyền lực, đang lúc kinh tế trì trệ Đảng Cộng sản vừa bịt miệng bất đồng chính kiến ở Việt Nam với một chiến lược bao gồm tự kiểm duyệt, vừa phỉ báng những người bất đồng chính kiến đang lên bị bắt, triển khai những dư luận viên nặc danh và tiến hành bắt giữ công khai.

Ở nước độc đảng Việt Nam, tốc độ và độ phổ cập của kết nối internet thật đáng kinh ngạc. Dân số trực tuyến đứng hàng thứ mười tám trên thế giới và Việt Nam là đất nước tăng trưởng nhanh nhất về số người dùng Facebook theo cơ quan nghiên cứu thị trường We Are Social.

Mức phổ cập internet về tổng thể là khoảng 34 phần trăm của 90 triệu dân của Việt Nam. Mặc dù trung bình của khu vực Đông Nam Á là gần 40 phần trăm, tốc độ thay đổi ở Việt Nam là ấn tượng. Số người dùng internet tăng hơn 20 phần trăm từ năm 2010 đến 2011 và chính phủ vừa công bố một kế hoạch băng thông rộng hướng đến bao phủ 85 phần trăm dân số trước năm 2015. Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam về công nghệ thông tin và viễn thông (ITC), theo ước lượng của Chỉ số Phát triển ICT, là một trong hàng cao nhất trên thế giới. Trong một bản báo cáo quốc gia, Liên minh Viễn thông Quốc tế cho hay sự phổ biến của điện thoại di động với truy cập internet thúc đẩy sự tăng trưởng. Sự xâm nhập của di động băng rộng tăng từ gần số không vào năm 2008 lên đến 13 thuê bao cho mỗi 100 người vào năm 2010.

Hiệu ứng phụ của việc tăng trưởng truy cập trực tuyến là việc viết blog trở nên phổ biến. Một ước tính cho rằng con số blog độc lập là khoảng hai triệu với một số nhỏ, tuy đáng kể, chú trọng vào những đề tài xã hội và chính trị nhạy cảm. Sự mới lạ của việc truy cập dễ dàng đến những quan điểm trái chiều trong một quốc gia với sự kiểm soát báo chí hoàn diện của nhà nước đã đưa hàng chục nhà viết blog độc lập thành những nhà bình luận nổi tiếng. Một số là ẩn danh, ví dụ như những cộng tác viên cho Danlambao, hay còn gọi là Dân Làm Báo, có đến hàng triệu lượt xem tính đến tháng 9 năm 2012. Một số khác nổi tiếng bởi bút hiệu như Nguyễn Văn Hải, còn được biết là Điếu Cày, sáng lập viên của một hội bị cấm, Câu Lạc Bộ những Nhà báo Tự do.

Các nhà viết blog "mắn tay" thu hút nhiều người đọc bằng tường thuật về những sự kiện và những vấn đề bị ngăn chặn bởi các nhà kiểm duyệt của chính quyền. Lấy ví dụ Điếu Cày, nổi tiếng vì tường thuật những cuộc biểu tình về những tuyên bố về những tranh chấp ở Biển Đông. Cựu sĩ quan Công an Tạ Phong Tần được nhiều người đọc vì những luận điệu về tham nhũng, đặc biệt là đối với công an. Những chủ đề nóng bỏng khác bao gồm dân chủ, thu hồi đất, nhân quyền và những cuộc đình công bất hợp pháp. Một số blogger, có lẽ khiêu khích hơn cả, bàn luận về một hệ thống chính trị mục ruỗng. Lê Văn Sơn dự đoán rằng sự sụp đổ của chính quyền là tất yếu. Lê Quốc Quân chỉ trích vai trò trụ cột của Đảng Cộng Sản trong chính trị Việt Nam.

Thật dễ mà nghĩ rằng Việt Nam đang dần cởi mở do áp lực bởi cái mà Tạp Chí Time gọi là "văn hóa biểu tình" đang trưởng thành. Tạp chí Economist còn đưa ra giả thuyết là Đảng có nguy cơ đánh mất uy thế đạo đức, một uy thế nền tảng của quyền lực, và đưa ra cảnh báo rằng sự thất vọng của công luận đang gia tăng "cho dù nó chưa đến mức dẫn đến cách mạng".

Sau những cuộc biểu tình của Mùa Xuân Ả Rập làm rung chuyển Trung Đông và Bắc Phi, những kịch bản hưng phấn của thay đổi được dự báo cho Iran Twitter, Trung Quốc Weibo, và Nga blogging. Những cuộc biểu tình về bầu cử vào năm 2009 ở Iran được gọi là Cách mạng Twitter. Một trật tự xã hội mới? Christophe Deloire của Phóng viên Không Biên Giới gọi là "thời đại khủng bố" với sự kiểm soát toàn diện bởi nhà nước và khủng bố không ngừng từ khi những cuộc biểu tình bắt đầu. Ở những nước này cũng như ở Việt Nam, việc đàn áp những nhà bất đồng chính kiến và xu hướng gia tăng kiểm duyệt và kiểm soát là những điểm dừng cay đắng về một dự đoán ngộp thở của cuộc cách mạng.

Hà Nội tỉnh ngộ ra rằng có một làn sóng dư luận trực tuyến trong nước và phản ứng đáp trả những nhà bất đồng chính kiến đang dò dẫm là nhanh chóng và cực kỳ khắc nghiệt, ngay cả đối với Đảng Cộng sản. Sau đây là bốn dấu hiệu cho thấy ưu thế thuộc về Đảng và việc đàn áp bất đồng chính kiến sẽ tiếp tục một cách đáng sợ và hiệu quả.

1. Đảng đã thay đổi luật

Đã từ lâu bất đồng chính kiến là bất hợp pháp ở Việt Nam nơi mà chính trị đa đảng cũng là trái luật. Điều này rõ ràng là bao gồm cả những phương tiện truyền thông mới. Vào tháng 9 năm 2012 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thông qua nghị định 7169 chỉ đạo các quan chức xử lý nghiêm với những blog xuyên tạc trái phép. Trước đó một sắc lệnh khác đưa ra những hình phạt cho các phóng viên báo giấy và báo mạng mà không tuân thủ những quy định mù mờ như "tường thuật tin tức trung thực trong và ngoài nước phù hợp với lợi ích nhà nước và nhân dân." Điều luật cũng đặt ra những quyền điều tra bao quát và thiết lập một lực lượng thanh tra riêng. Quyền điều tra những kẻ tuyên truyền bị tình nghi không còn phụ thuộc vào Bộ Thông tin và Viễn thông mà thuộc vào các ban ngành của Ủy ban Nhân dân, công an và những lực lượng khác.

Những luật định mới cho thấy một nhận thức ngày càng lo ngại giữa giới lãnh đạo hàng đầu của Đảng cho rằng việc viết blog đại diện cho một phương tiện mới cho đối lập. Nỗi lo sợ này đặc biệt thể hiện bằng số người bị bắt giữ gia tăng với tội "lật đổ chính quyền" theo như Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chỉ ra trong bản báo cáo nhân quyền năm 2011.

Tuyên truyền chống nhà nước có thể lãnh án đến 20 năm tù. Đi kèm với hình phạt khắc nghiệt, những luật mơ hồ về những gì cấu thành tội ngày càng đáng báo động. Một phần của cách chính quyền tiếp cận là làm cho dân chúng liên tục phỏng đoán: Một chiến lược khéo léo để khuyến khích tự kiểm duyệt đã được dùng hàng chục năm. Trong thời kỳ thanh trừng thanh nhũng vào cuối những năm 1990, nhà quan sát Việt Nam Martin Gainsborough ghi nhận rằng sự hoài nghi của công luận trước những sự thất sủng có vẻ ngẫu nhiên, nhận xét phổ thông là những kẻ phạm tội "chẳng làm gì khác ai."

Một khi bị xử tù tùy tiện, người ta phải có một nghị lực hiếm có và can đảm để chỉ trích công khai nhà nước.

2. Những phiên tòa hình thức đã không gây phản đối nào

Dù các công dân đã lên mạng, Việt Nam rớt vào tốp muời nước cuối bảng trong Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2012. Việt Nam là một vết đen thực sự ở Đông Nam Á theo chỉ số biên soạn bởi Phóng viên Không Biên Giới do sự đàn áp của Đảng đối với những nhà viết blog.
Trong năm vừa qua, Đảng thông qua kiểm soát tư pháp chặt chẽ,đã dựng một loạt những phiên tòa hình thức cho những nhà tư tưởng trái chiều. Trong những phiên tòa hình thức mang dáng dấp của thời kỳ Sô Viết, những bài đả kích cay độc được dành cho các nhà viết blog và các phóng viên. Án chung thân có thể được tuyên trong một phiên tòa diễn ra trong hai ngày và các chánh án dễ dàng cho phép bên nhà nước độc quyền về chứng cứ.

Sự đàn áp đang lên đến mức Việt Nam có vẻ như trên đường đến hạng chót vào bảng sắp hạng năm 2013. Trong vòng hai tháng vừa qua, năm nhà viết blog đã bị kết án về những tội an ninh nhà nước, một người khác bị ép đưa vào viện tâm thần và 22 nhà hoạt động bị cầm tù vì tội lật đổ và bị tuyên án từ 10 năm tù cho đến tù chung thân. Vào những ngày cuối năm 2012, luật sư nhân quyền và viết blog Lê Quốc Quân bị bắt và buộc tội trốn thuế. Vào tháng Chín, ba blogger độc lập và đồng sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do bị tuyên án 12, 10, và bốn năm tù giam ngay cả sau khi việc bắt giữ làm dư luận quốc tế lên án kể cả từ Nhà Trắng.

Theo Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo, Việt Nam đã gia tăng con số nhà báo trong tù trong vòng nhiều năm qua. Và trong năm 2012 Việt Nam đứng hạng thứ sáu tồi tệ nhất về bỏ tù phóng viên. Ủy ban ghi nhận rằng, chỉ trừ một người, tất cả phóng viên đều viết báo trực tuyến hoặc viết blog.

Những cuộc bắt bớ và hình phạt khắc nghiệt cho các nhà báo, kể cả công dân viết blog, không phải là những trường hợp ngoại lệ mà là dấu chỉ của một chuyển biến rõ rệt trong chiến lược của chính quyền. Đáng chú ý là sự chuyển biến diễn ra mà không có phản ứng công luận như người ta có thể nghĩ.

Có những vụ đình đám như vụ tự thiêu của một bà mẹ của một nhà báo bị giam vào tháng Sáu năm 2012 và vào tháng Mười 2012 có thư phản đối của các bạn học của một sinh viên bị bắt giam gởi đến Chủ tịch nước. Hai sự kiện đổ dầu vào lửa cho những chỉ trích trên mạng nhắm vào chính quyền thế nhưng tiếp sau đó là một sư im lặng đáng kể. Sau vụ bắt giữ Hoàng Khương vào năm 2011, một phóng viên điều tra làm rõ những vụ hối lộ của công an, công chúng lập tức cảm thấy bức xúc nhưng cũng chóng phai.

Tại sao những tia lửa này không tiếp tục cháy?

Có vẻ như dự đoán được lòng công chúng và ý thức được quyền lực không vững chắc của mình, chính quyền Việt Nam đã nhục mạ một cách có hệ thống những người bị xử án. Một phương pháp là có những buộc tội lố bịch ví dụ như những buộc tội chống lại Nguyễn Phương Uyên, sinh viên 20 tuổi thoạt tiên bị bắt giam vì tội tuyên truyền chống nhà nước và bây giờ là bị điều tra vì tội khủng bố. Theo các bạn học của cô, tội thật của cô là phát tán truyền đơn chống chính sách ngoại giao của Trung Quốc.

Phương pháp thứ hai là lột bỏ cá tính của họ. Sau khi bị bắt giam, Lê Quốc Quân được giới thiệu đến bạn đọc của tờ Wall Street Journal là "một trong những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất của Việt Nam", là tác giả của một blog nổi tiếng, là luật sư nhân quyền và là nhà tư vấn pháp luật, và là cựu nghiên cứu sinh của một hội do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ ở Washington. Trên báo chí quốc doanh ở Việt Nam, Quân được biết đến với một chức vị lờ mờ "giám đốc của Công ty Giải pháp Việt Nam."

3. Đảng có thể đang chiếm lấy dư luận

Một nhân tố chủ yếu trong việc pha loãng cơn giận dữ của công chúng là chiến lược truền thông trực tuyến của Đảng.

Tính nặc danh trên mạng là mối nguy mà cũng là cơ hội cho mọi chính quyền, cả độc tài lẫn dân chủ. Có đảng phái chính trị nào đã không giao nhiệm vụ cho các cảm tình viên theo đuổi những "còm" trên mạng của phe đối lập, và một cách nặc danh, phản bác lại theo đường lối của đảng mình? Nếu không là chỉ thị trực tiếp, những "du kích bảo vệ đảng" như thế cũng có sự chấp thuận ngầm.

Việc sử dụng các dư luận viên của chính quyền thu hút chú ý ở một diễn đàn vào năm 2011 về xung đột truyền thông xã hội tổ chức bởi Viện Hòa Bình của Hoa Kỳ (Institute of Peace). Những người thuyết trình suy tưởng về việc ngày càng khó khăn để phân biệt giữa những người ủng hộ độc lập và những dư luận viên chính phủ. Khoác lên vỏ bọc ẩn danh và nâng cao đều đặn cách viết truyền thông xã hội (một sự pha trộn giữa tiếng lóng và phong cách), các nhà bình luận của chính phủ hòa mình vào cuộc chơi.

Vào tháng Giêng, người đứng đầu của Ban Tuyên Giáo Đảng Cộng Sản tiết lộ rằng những người viết blog thân chính phủ được triển khai với hơn 400 tài khoản trực tuyến và 20 blog để đánh bóng Đảng và đánh trả lại chỉ trích. Con số người viết blog quốc doanh là không biết được nhưng được ước tính là gần 1000. Không có vẻ gì là xấu hổ hay thận trọng, Hồ Quang Lợi nói với BBC về sự thành công của chính sách nhằm chấm dứt những tin đồn thất thiệt về những vấn đề nhạy cảm và thật sự ngăn chặn những nỗ lực trên mạng nhằm tổ chức tụ tập đông người.

Việc thao túng dư luận có hiệu quả và có thể sẽ tiếp tục một khi Đảng không dùng kỹ thuật tinh vi hơn mà dùng những dư luận viên đáng tin hơn: những người có thể chuyển tải một diện mạo hiện đại và "bình dân" đằng sau avatar.

Đảng đang sử dụng những công cụ khác tinh vi hơn để kiểm soát hình ảnh của họ. Những tin tặc yêu nước thường xuyênđánh gục các trang mạng với thông tin trái chiều và những website có máy chủ ở ngoài Việt Nam bằng cách sử dụng các tấn công từ chối dịch vụ (DDoS). Tổ chức Sáng kiến Mạng Mở (OpenNet Initiative) ghi nhận các vụ tấn công ngày càng tinh vi nhắm vào các trang mạng trái chiều và tay viết độc lập. Trong một vụ tấn công trùng hợp với ngày tổ chức phản đối việc bắt giam blogger Điếu Cày, mã độc nhiễm khoảng từ 10 000 cho đến 20 000 máy tính, hầu hết là ở trong nước. Cho dù các mối liên hệ rõ ràng đến Hà Nội khó mà xác lập, mục tiêu của các vụ tấn công tinh vi có thể tin rằng là lỗi của nhà nước.

4. Kinh tế bị chững lại

Việt Nam được mang danh là một con Rồng Châu Á kể từ khi mở cửa kinh tế bắt đầu vào năm 1986, sau Đổi Mới, những cải cách đưa đến hai thập niên của phát triển. Kể từ 2002 cho đến 2007, Việt Nam đạt được mức tăng trưởng hàng năm đều đặn trên 7 phần trăm. Giới trung lưu cũng tăng lên, và cho dù thị dân ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hưởng lợi nhiều nhất từ việc mở rộng các dịch vụ và thị trường việc làm chuyên nghiệp, các thành phố khác cũng bùng nổ ngoài hai thành phố này. Điều này đưa phần lớn dân Việt Nam vào tầng lớp đuợc nhiều quyền lợi.

Từ khi suy thoái kinh tế 2008 làm suy sụp kinh tế toàn cầu, tăng trưởng của Việt Nam đã chững lại, giảm xuống khoảng 5 phần trăm vào năm 2012. Trong khi nhiều nước thu nhập cao sẽ đánh đổi độc quyền trong nước để có mức độ phát triển như vậy, sự suy giảm thu nhập gia đình của những gia đình Việt Nam không giàu có là tai hại. Cũng vậy lạm phát gia tăng với giá cả sinh hoạt tăng trên 9 phần trăm trung bình mỗi tháng vào năm ngoái.

Tệ hơn dự báo cho hay một khủng hoảng liên tục nhưng có tính chu kỳ, các nhà kinh tế đã nêu bật sự tổn hại lâu dài, đáng lo hơn. Sự mục ruỗng là do tham nhũng lan tràn và quản lý yếu kém của những đầu tàu công nghiệp Việt Nam, những tập đoàn quốc doanh. Một chuỗi những vụ đình đám kể từ năm 2011 đã bộc lộ quản lý yếu kém ở các tập đoàn quốc doanh làm thất thoát hàng tỷ USD và nợ xấu. Đây là cú đánh chí tử vào hồ sơ quản lý của Hà Nội do các tập đoàn quốc doanh đem lại 40 phần trăm sản lượng quốc gia.

Đối phó với chuyện này, Hà Nội đã phát động những vụ thanh trừng công khai các lãnh đạo của các tập đoàn quốc doanh, đáng chú ý là chủ tịch và bốn giám đốc điều hành của công ty vận tải biển lớn nhất Việt Nam, Vinalines, và 9 vị giám đốc điều hành của công ty đóng tàu Vinashin. Tất cả đều bị bắt hoặc bỏ tù vào năm 2012.

Liên can đến đống tập đoàn quốc doanh là Việt Nam rớt hạng ở Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (Corruption Perceptions Index) xuống hạng 123 vào năm 2012 từ 112 vào năm 2011. Thứ hạng thấp có thể cho thấy là các quan chức chính phủdần dần áp dụng luật một cách tùy tiện và theo tư lợi, hay đơn giản là các công dân ngày càng nhận thức hơn nạn dịch tham nhũng.

Đảng biết rằng những chính quyền có vẻ vững chắc bề ngoài có thể sụp đổ khi đối mặt với kinh tế trì trệ, và họ sẽ tuyệt đối không muốn sức mạnh khó lường của truyền thông xã hội cung cấp thêm nguyên liệu cho sự bất mãn. Đây là, suy cho cùng, lần đầu tiên kinh tế trì trệ của Việt Nam bị săm soi bởi cộng đồng mạng.

Đứng trước sự lung lay quyền lực đạo đức và uy tín quản lý kinh tế của mình, Hà Nội sẽ tiếp tục điên cuồng cảnh giác trước những chỉ trích về các chính sách kinh tế hoặc giới kinh doanh tinh hoa. Trên mặt trận công luận, họ sẽ dùng những cuộc thanh trừng để chứng tỏ sự kiểm soát của họ.

♦ ♦ ♦

Việc đàn áp bất đồng chính kiến ở Việt Nam là về vấn đề kiểm soát một cách diễn dịch lịch sử. Đảng Cộng Sản Việt Nam là người bảo vệ và nhân tố quyết định trường kỳ của dân tộc Việt Nam, theo cách nói hoa mỹ của Hà Nội. Quá khứ gần đây của Việt Nam đầy ắp những sự kiện mà những biểu ngữ giăng khắp phố có thể thay đổi cứ vài mỗi tuần.

Bản chất của Đảng, và có phần cả nước, là không bao giờ bị miễn nhiễm khỏi chia rẽ thế nhưng chuyện đấu đá luôn là nội bộ, nếu không kể đến mối bất hòa lâu đời với một số sắc dân thiểu số. Đảng ngày nay đối mặt với mâu thuẫn nội bộ giữa phe thân Thủ tướng Dũng và những người ôn hòa như Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư. Cách đây mười năm đó là những cựu binh của chiến tranh chống Pháp xung khắc với viễn kiến của phe của Dũng.

Hiểm họa mới là bất mãn xã hội bị khuếch đại bởi mạng internet. Nó đã bị vô hiệu hóa một cách sắc sảo bởi Hà Nội trong một nổ lực trùng hợp với suy thoái kinh tế toàn cầu và trở nên tàn nhẫn sau Mùa Xuân Ả Rập, một sự cố tạo những tiền lệ cho sự sụp đổ bất ngờ của chế độ.Thông điệp của những biến động là cảnh giác. Dũng đã cho thấy bài học không bị chính quyền của ông lãng quên với một lời cảnh báo dịp Tết rằng "chúng ta thường xuyên bị thách thức bởi những âm mưu gây bất ổn chính trị xã hội."

Nói cách khác, sự đàn áp tiếp tục ở quốc gia hay sợ sệt này.
Dana Wagner
(Dana Wagner là một chuyên viên tư vấn về chính sách di dân, ở Hà Nội)

20 tháng 3, 2013

,

Những giới hạn của Đảng Cộng sản

Đảng Cộng Sản VN chi nhiều tiền cho các lễ hội tuyên truyền cho mình hàng năm.
Theo dõi đợt huy động người dân góp ý kiến cho tu sửa Hiến pháp 1992 mà nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam đang chủ xướng hiện nay, tôi thấy Đảng cộng sản đang bộc lộ một số giới hạn là lực cản của mình trong cách giải quyết bài toán vốn liên quan tới sự tồn vong của họ.

Các giới hạn này có thể không chỉ đóng vai trò quan trọng đằng sau các động thái được cho là 'lúng túng, thiếu nhất quán' của Đảng (vốn bị một bộ phận quần chúng, trong đó có các cư dân mạng, đặt câu hỏi khi Đảng ‘lúc mở, lúc đóng’ cho phép dân tham góp ý kiến xây dựng hiến pháp); mà chúng còn có thể quyết định các động thái chiến lược trong tương lai của Đảng. Vậy các giới hạn ấy là gì? Chủ quan, khách quan ra sao?
Trước hết, trong cảm nhận của tôi, có vẻ có ba giới hạn là lực cản mang tính chủ quan đến từ thế hệ - tuổi tác, tính toán chính trị và tâm l‎ý ý thức có vai trò ngăn trở các tiến hóa chính trị, quyền lực của Đảng.
Thứ nhất, giới hạn của phạm vi tuổi tác của các thế hệ lãnh đạo của Đảng có vẻ đang là một lực cản có tác động mạnh. Thế hệ đang chấp chính trong bộ máy 'chóp bu' ở Việt Nam hiện nay đa số là các đảng viên kỳ cựu được trưởng thành trong giai đoạn mà trong nước vẫn gọi là cuộc chiến tranh ‘chống Mỹ cứu nước.’
Những người không trực tiếp ‘cầm súng’ thì cũng thuộc các lực lượng chính trị, xã hội, các tổ chức ở hậu phương, hoặc con cháu của những đảng viên ‘chiến binh’, ‘cán bộ’ trong chiến tranh của Đảng.

'Tuổi tác'

"Không có gì đảm bảo chắc chắn rằng các cán bộ lãnh đạo thuộc thế hệ trẻ sẽ thoát khỏi ý thức hệ, tâm lý và não trạng chuyên chính như trên"
Tuổi tác quyết định ít nhất hai điều. Trước hết, những người lãnh đạo có thể mang theo họ những ảnh hưởng tâm l‎ý chính trị, ý‎ thức thời chiến, ấn tượng tâm l‎ý của thời kỳ xung đột địch ta quyết liệt và không kém phần bạo lực do hoàn cảnh. Đây là cũng là giai đoạn không chỉ xuất hiện các yếu tố cấu thành tâm l‎ý thù hận, địch ta, mà đặc biệt là giai đoạn của tâm lý và não trạng lãnh đạo được cho là duy ý chí, nguyên tắc máy móc về chuyên chính vô sản, điều đã được nhiều nhân sỹ, trí thức trong đợt góp ‎ý kiến nhân lần sửa hiến pháp vừa qua nhắc tới, nhất là sau phát biểu của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng gần đây “sửa gáy” đảng viên, cán bộ (và qua đó, cảnh cáo, răn đe quần chúng về thái độ và lập trường của họ) khi đóng góp sửa đổi Hiến pháp, cũng như trong chiến dịch truyền thông, tuyên truyền bảo vệ Đảng và chế độ rất rầm rộ hiện nay.

Tiếp đó, cũng giống như trường hợp của Kim Jong-un, tân lãnh tụ của Bắc Triều Tiên, mặc dù trẻ tuổi, ở độ tuổi trên dưới 30, nhưng không có gì đảm bảo chắc chắn rằng lớp các cán bộ lãnh đạo thuộc thế hệ trẻ cộng sản sẽ thoát khỏi ý thức hệ, tâm lý và não trạng chuyên chính như trên. Một trong các lý do là vì nếu họ được cơ cấu vào bộ máy lãnh đạo các cấp, thì trên con đường đi tới quyền lực, họ chịu sự ảnh hưởng của các thế hệ cha anh, cha chú lãnh đạo, xung quanh họ vẫn còn các tác động của những người mà có thể “tôi đưa anh lên được, thì tôi cũng có thể hạ anh xuống được.” Nhưng quan trọng nhất, môi trường "xã hội hóa về chính trị” kép từ nền giáo dục đậm màu sắc “lịch sử chiến tranh” và “chuyên chính vô sản” từ phổ thông cho tới trường Đảng, lại bổ sung thêm bằng các môi trường rèn luyên đã được “cơ cấu”, “dự kiến, quy hoạch nhân sự” và thực tập quyền lực trong môi trường cạnh tranh quyền lực với “thẻ đoàn, thẻ đảng, bổng lộc, sổ đỏ (đất đai), cổ phần ưu đãi và tương lai là sổ hưu,” họ có xu hướng đã thích ứng mạnh và củng cố tâm l‎ý, ý thức chính trị một cách chủ động, có ý‎ thức, và qua đó biến những yếu tố này trở thành thành tố “kiên định” kiểu “thép đã tôi thế đấy” và có thể "bảo hoàng hơn cả vua" bên cạnh sự nhạy bén với "lợi ích kinh tài cá nhân và phe nhóm". Họ, nếu vẫn trong guồng máy cũ, với tư cách một thế hệ lãnh đạo mới, có thể sẽ không có sự đổi mới như ai đó mong đợi, kỳ vọng về cải tổ chính trị-xã hội, cách mạng dân chủ, nhân quyền triệt để ở Việt Nam.

Tất nhiên, thích nghi, thích ứng là một năng lực đặc biệt của con người, nếu giữ không được, khi thời cuộc thay đổi, thì những tầng lớp lãnh đạo hiện nay, và những thành phần tiềm năng trong “thế hệ trẻ” sẽ thay đổi rất nhanh, nếu họ tính toán, cân nhắc thay đổi theo kịch bản nào là có lợi nhất cho họ, thậm chí chỉ qua một đêm, khi xuất hiện dấu hiệu cải tổ chính trị, thể chế và xã hội mới, căn bản và thực sự.

'Chắc cờ'

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (trái) đề cao việc
 bảo vệ đảng và quyền lực của chính quyền
Giới hạn có tính lực cản thứ hai có vẻ nằm ở bài toán và tư duy cân nhắc thiệt hơn của Đảng nên cải tổ, đổi mới trong tình hình hiện nay hay là không làm gì, hoặc vừa di chuyển vừa kiểm soát, nếu buộc phải di chuyển.
Trong một bài viết của mình trên BBC, một ‎ý kiến của nhà quan sát và vận động trong nước cho rằng những người chiến đấu cho cải tổ chính trị, cải cách dân chủ ở Việt Nam cần phải “thẳng thắn với đảng, thành thật với mình,” theo tôi điều này liên hệ tới một giới hạn thứ hai của đảng, đó là tâm lý “chắc cờ” của họ. Đảng ngày càng tuyên bố phải nắm chắc quyền lực hơn, thì làm sao có thể nghe ‎và làm theo một cách đơn giản ý kiến của các giới nào đó đòi đảng chia sẻ quyền lực, thậm chí từ bỏ nó?

Lâu nay, trên truyền thông mạng không chính thức, có ‎ý kiến trào phúng cho rằng Tổng bí thư Đảng Cộng sản là thiếu sáng suốt, trong khi một số ý kiến khác cho rằng ngược lại, nhà lãnh đạo của Đảng hiện nay không hề lú lẫn như bị cáo buộc.

Hai luồng ý kiến đều có thể có những l‎ý riêng của mình, một bên có thể cho rằng nhà lãnh đạo của Đảng không nhìn thấy hết tiền đồ và đang tích cực làm những việc chỉ dẫn đến tương lai thiếu bền vững của Đảng, khi ông và các đồng chí cố tình “giữ khư khư” quyền lực; còn bên kia thì có thể lập luận rằng “nếu ông Tổng bí thư cải tổ kiểu Gorbachov, ông và các đồng chí, chiến hữu của ông sẽ không còn ghế quyền lực để ngồi, và bổng lộc để hưởng, chưa kể có thể bị trừng phạt, trả thù,” bởi vậy nên phải giữ chắc, thì đó là tính toán chính trị dựa trên cân nhắc hơn thiệt, có sự tham gia của hoạt động tư duy "trí tuệ" ở nhà lãnh đạo đó, chứ không phải đơn thuần là “lú lẫn.”
"Tâm l‎ý sợ buông ra là đánh mất này đã làm cho Đảng quyết định siết chặt, và nó đứng đằng sau việc đảng đang sử dụng bộ máy tuyên truyền và an ninh, kể cả lực lượng vũ trang, để thắt lại, định hướng lại dư luận xã hội, răn đe các lực lượng cạnh tranh"
Nhưng tôi cho rằng chính tính toán “chắc cờ”, “giữ khư khư” quyền lực này là giới hạn, hạn chế thứ hai của Đảng. Nó có vai trò như một lực cản, một phanh hãm của mọi dự án, mọi tư duy đổi mới. Chưa bơi đã sợ chết đuối, chưa chạy đã sợ ngã, chưa ra tới biển lớn đã muốn quay về nhà, do đó mà có thể có luồng ý kiến cho rằng, Đảng đang “ăn đong” , đang “bóc ngắn cắn dài” trên chính "di sản chính trị đếm từng ngày" của mình, bất luận thân phận, tương lai của dân tộc ra sao và được ngày nào thì hay ngày ấy.
Như vậy, tâm l‎ý sợ buông ra là đánh mất này đã làm cho Đảng quyết định siết chặt, và nó đứng đằng sau việc đảng đang sử dụng bộ máy tuyên truyền và an ninh, kể cả lực lượng vũ trang, để thắt lại, đưa vào khuôn khổ, định hướng lại dư luận xã hội, răn đe các lực lượng cạnh tranh, muốn thách thức quyền lực, từ những người được cho là các nhóm phản biện xã hội công khai có nguồn gốc cán bộ, đảng viên của Đảng, chính quyền, hay những ai mà đảng cho là các “thế lực thù địch” lợi dụng, tuyên truyền, chống phá, mặc dù họ có thể luôn biểu đạt chính kiến một cách công khai và bất bạo động, chân thành đến mức nào.

'Sợ hãi'

Giới hạn mang tính lực cản thứ ba, như trong một tiết lộ gần đây của một giảng viên cao cấp trong hệ thống đào tạo và l‎ý luận của quân đội đã cho thấy, Đảng sợ mất “sổ hưu.” Sổ hưu ở đây như nhiều bình luận trên mạng đã phân tích, chính là nỗi sợ không định đoạt, kiểm soát được tương lai gần, tương lai xa, bổng lộc, quyền lực mà hiện nay được cho là "vô giới hạn" của Đảng (chính quyền vẫn chưa có luật về Đảng). Nỗi sợ hãi này về những trừng phạt của chính quyền hậu cộng sản, phi cộng sản, trong tương lại, về những áp lực đòi hỏi tìm lại công lý bị mất trong quá khứ của quần chúng, nhân dân một khi đảng đánh rơi quyền lực, đã làm cho Đảng co lại và tìm tới phương thuốc dễ dàng nhất, vốn đã sử dụng quen lâu nay, dù càng ngày càng có vẻ bị "nhờn" trước dân, đó là “chuyên chính vô sản” và sử dụng các răn đe, trừng phạt, thậm chí chế áp bằng bạo lực trước dân nhằm triệt tiêu, ngăn chặn mọi hiểm họa có thể dẫn tới “cơn bão lốc” cách mạng của quần chúng. Và để giải quyết tạm thời trong một hay một vài đại hội đảng, nếu có, của mình, chính quyền và đảng quyết định tiếp tục điều mà tôi gọi là “xuất khẩu nỗi sợ” sang quần chúng. Đáng nhẽ tôi sợ anh, thì anh lại phải sợ tôi, và tôi làm cho anh sợ tôi, để anh không thấy tôi sợ anh.

Có thể chính quyền đang ngại các cuộc xuống đường của
 dân chuyển hướng thách thức vào quyền lực của Đảng
Quy luật tâm l‎ý chuyển hóa nỗi sợ theo phương cách này có thể hoạt động trong một số tình huống, nhưng được cho là không bền vững, vì có ít nhất hai lẽ. Sợ hãi trong một thời gian quá dài có thể sẽ dẫn người mang tâm lý đó, như quần chúng, công dân ở một số quốc gia, xã hội, cộng đồng tới một mức độ quá khiếp sợ và dẫn tới nhu cầu cấp bách phải chuyển hóa nỗi sợ của họ sang dạng “tức nước vỡ bờ”, tức là một cấp độ còn cao hơn “nhờn thuốc” (không sợ, hết sợ, bão hòa, trơ ra, bất cần...), và tiến tới “vượt qua sợ hãi”, động lực bùng nổ tâm l‎ý đã góp phần làm nên các cuộc cách mạng mùa Xuân Ả-rập gần đây, và cuộc cải tổ sâu rộng làm sụp đổ toàn bộ hệ thống chính trị chuyên chế ở Đông Âu theo chủ nghĩa xã hội trước đây, trong đó có Ba Lan, Cộng hòa Dân chủ Đức, Roumani, Liên Xô, v.v…

Mặt khác, bị nỗi sợ mất chính quyền này chắn lối, các dự án, ý đồ cải tổ chính trị nếu có ở trong đảng có thể sẽ bị chặn lại, (nhất là ở điểm then chốt là cải tổ triệt để về chính trị, thể chế và quyền lực, dân chủ hóa, tôn trọng các thiết chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dẫn nhập các yếu tố nhà nước pháp quyền thực sự, chuẩn bị chủ động, chu đáo cho các quá trình chuyển đổi kinh tế, chính trị và xã hội hậu thể chế, hậu mô hình chuyên chế, trong đó đảm bảo chuyển giao hòa bình, phát triển bền vững, văn minh, có trách nhiệm và tôn trọng luật pháp...), để tiếp tục làm cho đảng “ổn định quyền lực về hình thức trong hiện tại, nhưng bất chắc về tương lai.” Bằng chứng là nếu ai hỏi các lãnh đạo đảng xem đảng sẽ tồn tại trên vị thế độc tôn thâu tóm chính quyền trong bao lâu, thì khó có ai trong họ có câu trả lời rõ ràng và thuyết phục. Còn nếu hỏi dân, thì cần mở ra trưng cầu ý kiến khách quan, công khai, nghiêm chỉnh, câu trả lời đó có thể sẽ có ngay, và do đó, sẽ bị loại bỏ trong mọi dự án manh nha, từ trứng nước. Thời gian ba tháng vừa qua khi góp ý thay sửa Hiến pháp chưa “bị siết lại” đã cho thấy rõ một phần câu trả lời, với nhiều ý kiến nói thẳng: đảng chỉ có thể tiếp tục sinh mệnh chính trị trong tưong lai nếu chịu chia sẻ và thậm chí từ bỏ quyền lực mà trên hình thức, nguyên tắc được thể hiện ở Điều 4 của Hiến pháp hiện hành.

'Môi trường'

Trên đây là ba giới hạn đóng vai trò các trở ngại chủ quan, đến từ bên trong nội bộ đảng, có liên quan thế hệ - tuổi tác, tính toán thiệt hơn nhất thời và tâm lý sợ hãi cùng cách thức xử lý.
"Nếu cả hai bên còn chơi bóng bàn kiểu này, mà hiện rất khó có diễn biến khác, thì trận thi đấu sẽ còn kéo dài tới khi nào mà hai bên còn có thể duy trì các cách chơi của họ. Tức là chưa có hồi kết"
Tiếp theo, trong số nhiều giới hạn, trở ngại khác, tôi muốn đề cập tới ba giới hạn hay trở ngại có tính “khách quan” đến từ môi trường, làm ngăn bước tiến hóa trong vị thế quyền lực và sinh mạng chính trị của Đảng. Đó là các giới hạn, trở ngại đến từ: thứ tư, cung cách đấu tranh cho cải tổ chính trị, dân chủ ở trong nước; thứ năm, môi trường ‎ý thức hệ; và thứ sáu, vai trò của áp lực quốc tế mà chủ yếu từ các thể chế và nhà nước dân chủ phương Tây.

Trong thành tố của cải tổ chính trị ở Việt Nam, trong ý thứ tư, các lực lượng muốn cải tổ tuyệt đối ở bên trong và xuất phát từ nội bộ của đảng (trí thức, đảng viên, cán bộ hưu trí) mặc dù đã tỏ ra hết sức can đảm, vẫn buộc phải sử dụng các hình thức che chắn, đề phòng cho an ninh của mình, trong đó có cách nói “men men”, “dựa vào luật của chính quyền” do đảng đề ra, quyết định, để đấu tranh từng bước, từng nấc, trong khuôn khổ, để thay đổi chính khuôn khổ chung. Đây chính là một điều kiện để đảng và chính quyền cũng dựa vào đó “kéo dài cuộc chơi”, với việc gia hạn nhận ‎ý kiến tu chỉnh Hiến pháp lần này là một ví dụ, hay việc thu hút cả xã hội, dư luận xã hội vào một trung tâm chú ‎ý là “sân khấu sửa hiến pháp” vẫn “từ túi của đảng” rút ra là một ví dụ khác. Nếu cả hai bên còn chơi bóng bàn kiểu này, mà hiện rất khó có diễn biến khác, thì trận thi đấu sẽ còn kéo dài tới khi nào mà hai bên còn có thể duy trì các cách chơi của họ. Tức là chưa có hồi kết. Việc bảo cả hai bên thay đổi cách chơi của mình, mà hiện nay có vẻ còn tương đối an toàn cho cả hai bên, do vậy, có vẻ khó khăn.

Đặc biệt điều này càng khó khi hai bên chơi bóng không có trọng tài, không ai đảm bảo rằng nếu cải tổ xảy ra, hoặc không xảy ra thì điều gì sẽ xảy đến với thận phận chính trị của mình. Đây chính là dạng lực cản tinh vi ngăn trở một kịch bản, dự án nào đó về chuyển giao, hay thay đổi, hoặc tiến hóa quyền lực trong dạng thức mới, trong tương lai của đảng có liên quan tới quyền lợi, lợi ích chính đáng của nhân dân và quốc gia, vận mệnh của dân tộc.

'Phương Tây'

TQ vừa thay đổi thế hệ lãnh đạo với cam kết giữ ổn định
 chính trị và quyền lực của đảng, bên cạnh tăng trưởng
Thứ năm, như những gì mới diễn ra ở Cuba và Trung Quốc, thậm chí Bắc Triều Tiên, bất chấp các chuyển biến ở Miến Điện hoặc ở nơi khác gần đây, toàn bộ khối các quốc gia đang sử dụng chuyên chính vô sản như hình thức quản l‎ý, công nghệ xã hội nhằm duy trì, thống trị quyền lực độc tôn và toàn trị, vẫn chưa chuyển biến, thay đổi “cấp tiến”, "căn bản." Thậm chí Trung Quốc được cho là còn có các động thái tạo lực đẩy, lực kéo hướng một số quốc gia cộng sản ít nhất là không rời khỏi vòng ảnh hưởng chính trị, kinh-tài của mình, chưa nói là ngăn họ rơi vào vòng ảnh hưởng của phương Tây. Câu hỏi đặt ra là trong khi Việt Nam còn chịu ảnh hưởng tương tác liên đới về hình thức, tâm lý “với khối quốc gia với ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa ” này, với toàn khối vẫn chưa động thủ, chưa trao trả quyền lực hay trong quá trình chuyển giao, chia sẻ quyền lực đích thực, thì tại sao Việt Nam (đảng cộng sản) lại phải thay đổi?

Đây là một lực cản dù không hẳn rõ ràng, nhưng về mặt tâm lý chính trị, nó có vai trò tiếp tục để Đảng cộng sản duy trì cách chơi cũ, não trạng cũ và tiếp tục “ngó nghiêng” môi trường, chờ đợi, chờ thời, và dựa vào đó mà quyền biến ứng xử sau, mặc dù về mặt biện chứng mà nói, các dòng tư duy biến đổi, các động thái biến chuyển có thể vẫn không ngừng diễn ra trong nội bộ đảng, nội bộ chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, xã hội, cộng đồng và quần chúng.
"Ngoài ra, mặc dù môi trường là quan trọng, nội lực tự thân có vai trò như thế nào? Nếu một chủ thể cầm quyền trong xã hội nhất định không đổi mới, hoặc chậm cải tổ, thì xử thế của các chủ thể còn lại và tương tác giữa họ sẽ phải và cần ra sao?"
Và cuối cùng là giới hạn tới từ “phương Tây”. Lực cản thứ sáu này đến từ môi trường khách quan, với việc nhiều quốc gia và định chế dân chủ phương Tây trong mấy năm qua được cho là “ít nhiều bị bận rộn, sa lầy” giải quyết các vấn đề kinh tài nội bộ của khối, của từng quốc gia, tổ chức trong đợt suy thoái kinh tế toàn cầu, nên có thể ít nhiều giảm thiểu các trọng tâm chú ý và can thiệp tới một số quốc gia vốn “cần” được chuyển đổi sang thể chế dân chủ văn minh (trong đó có các chế độ cộng sản còn lại, mà Việt Nam là một thành viên). Trên thực tế, đây là một điểm có thể gây tranh cãi. Phương Tây "bận rộn", nhưng có vẻ vẫn đang hiện diện ở một số địa điểm trên thế giới như Syria hay Miến Điện, sau Libya. Tuy nhiên đúng là cách chơi của các quốc gia này với khối cộng sản đã phức tạp hơn trước, trong hợp tác có tác động, áp lực, trong tác động áp lực, có nhượng bộ, hợp tác.

Vấn đề là ai quan trọng với ai hơn trong một quan hệ, lĩnh vực, thời điểm gắn với lợi ích cụ thể; và vấn đề nội bộ của riêng Việt Nam có tới mức cấp thiết với các quốc gia phương Tây hay các thể chế được cho là “tiến bộ, tiên phong” đó trên thế giới hay không? Đó là các câu hỏi chưa hẳn có sẵn câu trả lời, chưa nói tới luật pháp Quốc tế, hay bản thân các thiết chế chính trị, luật pháp của Liên hợp quốc và nhiều định chế quốc tế khác, cũng còn tiếp tục định hình, hoàn thiện, chuyển mình trong thế kỷ 21. Ngoài ra, mặc dù môi trường là quan trọng, nội lực tự thân có vai trò như thế nào? Nếu một chủ thể cầm quyền trong xã hội nhất định không đổi mới, hoặc chậm cải tổ, thì xử thế của các chủ thể còn lại trong quốc gia và tương tác giữa họ với chủ thể kia sẽ phải và cần ra sao?

Và trong khi còn chờ đợi câu trả lời, phải chăng đây có thể là một yếu tố nữa như lực cản khách quan khiến đảng Cộng sản chưa thấy “cấp thiết” cần cải tổ như những gì mà những người khác, chủ thể chính trị - xã hội khác trong xã hội, trong nhân dân, các giới, các tầng lớp có thể ít nhiều đã nhìn thấy trước và đang không ngừng cầu vọng.

18 tháng 3, 2013

,

BMI - Ba kịch bản chính trị Việt Nam

BMI nói kịch bản tốt nhất là Đảng Cộng sản dần chuyển sang tự do hóa chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam đang phải đối diện với một nhiệm vụ khó khăn trong việc bảo vệ hệ thống độc đoán, giữa lúc áp lực đòi cải cách dân chủ đang ngày càng tăng cao.
Đây là nhận xét của hãng tư vấn ở London, Business Monitor International ( Bấm BMI), được đưa ra trong Bấm bản phúc trình mới nhất, dự báo tình hình kinh doanh của Việt Nam trong thời gian từ nay tới 2022.
Trong bản phúc trình mới nhất, công bố cho quý hai năm 2013, công ty độc lập chuyên thu thập và đánh giá rủi ro chính trị và kinh doanh có trụ sở tại London nói rằng về ngắn hạn, mức độ rủi ro chính trị của Việt Nam là tương đối thấp, nhưng về mặt dài hạn lại gây quan ngại.

BMI đánh giá rằng câu hỏi lớn nhất mà chính trị Việt Nam đang gặp chính là những lời kêu gọi đòi phải dân chủ hóa, trong lúc về mặt chính sách ngoại giao thì việc Trung Quốc ngày càng lớn mạnh sẽ đẩy Việt Nam gắn bó hơn với nhóm các nước Á châu có quan hệ gần gũi với Hoa Kỳ.

Theo cách tính toán xếp hạng của BMI, Việt Nam đạt 76,9, tức trên trung bình trong khu vực đối với mức rủi ro chính trị ngắn hạn (73,2), đứng thứ chín. Đứng đầu là Singapore (94,8), tiếp theo là Brunei Darussalam (90,6).

BMI xếp hạng rủi ro chính trị dài hạn

  1. Nam Hàn 84,2
  2. Singapore 80,6
  3. Đài Loan 75,4
  4. Hong Kong 72,9
  5. Trung Quốc 67,4
  6. Malaysia 67,2
  7. Ấn Độ 65,7
  8. Brunei Darussalam 65,6
  9. Philippines 62,8
  10. Bangladesh 62,6
  11. Thái Lan 61,8
  12. Sri Lanka 60,2
  13. Indonesia 60,0
  14. Campuchia 58,9
  15. Việt Nam 57,7
  16. Bắc Hàn 55,2
  17. Papua New Guinea 54,8
  18. Pakistan 52,7
  19. Bhutan 51,0
  20. Lào 44,5
  21. Miến Điện 37,5
Trung bình khu vực 62,6/toàn cầu 63,4/các thị trường đang nổi 59,8
Tuy nhiên, ở phần xếp hạng độ rủi ro dài hạn, theo BMI, Việt Nam chỉ đạt 57,7, dưới mức trung bình (62,6) và đứng thứ 15 trên tổng số 21 quốc gia khu vực. Trong bảng này, Nam Hàn được cho là an toàn nhất, đạt 84,2 điểm, với Miến Điện đứng chót (37,5).

BMI cũng đưa ra ba kịch bản cho khả năng thay đổi chính trị Việt Nam trong thời gian tới, gồm tình huống cơ bản, tình huống tốt nhất, và tình huống xấu nhất.

Kịch bản một: Chế độ kỹ trị

Theo kịch bản này, Đảng Cộng sản VN biến chuyển thành một chế độ kỹ trị, theo đó BMI dự đoán Đảng sẽ chuyển hướng để chính phủ nhắm vào việc duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao và đảm bảo phân phối của cải một cách tương đối hợp lý cho toàn bộ dân chúng.

Với hướng đi này, BMI nhận định nhiều thanh niên vào Đảng nhằm thăng tiến trong sự nghiệp và phục vụ đất nước chứ không phải vì lý tưởng cộng sản.

Do vậy, BMI dự đoán các cải cách kinh tế sẽ được tiếp tục, bất chấp những lời chỉ trích từ các thành viên lớn tuổi, bảo thủ trong Đảng.

Tuy nhiên, BMI đánh giá là trong kịch bản này, việc các nhà hoạt động đòi dân chủ và những người chỉ trích chính phủ có những giai đoạn bị đàn áp mạnh tay chính là chỉ dấu cho thấy việc tự do hóa chính trị vẫn là điều chưa được chấp nhận.

Kịch bản hai: Từng bước tự do hóa chính trị

Theo BMI, đây sẽ là tình huống tốt nhất, với việc Đảng Cộng sản áp dụng những chuyển biến nêu trong kịch bản một, đồng thời kết hợp với việc dần dần tiến tới tự do hóa chính trị, như mở rộng vai trò của Quốc hội, chấp nhận một cách dễ dàng hơn những ý kiến khác ở ngay trong cùng Đảng, tăng tính cạnh tranh chính trị trong các kỳ bầu cử, và cho truyền thông hoạt động cởi mở hơn.

Theo kịch bản này, BMI cho rằng Việt Nam sẽ đi từ hệ thống độc đảng sang hệ thống một đảng nắm quyền chi phối tương tự như mô hình ở các nước láng giềng Campuchia, Malaysia và Singapore, nơi chỉ có đảng cầm quyền là có cơ hội thực sự để chiến thắng trong các kỳ bầu cử.
Hiện đang có nhiều kêu gọi phải sửa đổi điều 4 Hiến pháp,
qua đó thách thức sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản
Nếu nhìn xa hơn, thì những gì đã xảy ra ở Nam Hàn, Đài Loan và Nhật Bản cho thấy mô hình hệ thống một đảng nắm quyền chi phối rốt cuộc cũng sẽ mở đường cho phe đối lập. Tuy nhiên, BMI nhận định trong trường hợp Việt Nam thì con đường này có lẽ chỉ xảy ra sau hơn một thập niên nữa.

Kịch bản ba: Bạo loạn và đàn áp bạo lực

Là khả năng xấu nhất, với những bước đi sai lầm nghiêm trọng về mặt chính sách, dẫn tới một giai đoạn biến động kinh tế kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp cao và mức lạm phát chóng mặt khiến mức độ sung túc bị xói mòn, theo BMI.

Tình hình này sẽ thúc đẩy mạnh việc thay đổi thể chế, nhưng BMI đánh giá rằng trước các cuộc biểu tình rộng khắp trên đường phố và sự thách thức toàn diện về cơ chế độc đảng lãnh đạo, một bộ phận trong Đảng sẽ ủng hộ việc dùng các lực lượng an ninh đàn áp người biểu tình để tiếp tục níu giữ quyền lực.

Tuy nhiên, theo BMI, việc đàn áp bạo lực các cuộc biểu tình đường phố như từng xảy ra Bấm tại Bắc Kinh hồi 1989 hay tại Miến Điện hồi 2007 sẽ dễ khiến nhiều người thiệt mạng, và dẫn tới việc bị cộng đồng quốc tế áp lệnh trừng phạt.

Mà nếu vậy, Việt Nam nhiều khả năng sẽ phải đương đầu với không chỉ tình trạng bị cô lập về mặt ngoại giao mà còn bị suy yếu kinh tế do ảnh hưởng tới việc xuất khẩu và đầu tư trực tiếp của nước ngoài, BMI đánh giá.