Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

11 tháng 4, 2013

, , ,

Những thành tựu nổi bật của nền nông nghiệp Israel

Công nghệ cao được áp dụng trong mọi hoạt động SX nông nghiệp ở Israel

Đại sứ Israel tại Việt Nam Effie Ben - Matityan mở đầu cuộc trò chuyện với TS về nền nông nghiệp, đặc biệt về các nhà khoa học nông nghiệp của Israel bằng việc giới thiệu khái quát những thành tựu nổi bật của nền nông nghiệp Israel.

Israel chỉ rộng bằng 1/58 Việt Nam, mật độ dân số thuộc hàng đông nhất thế giới. Nhưng chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp, Israel không những bảo đảm đủ nhu cầu lương thực mà còn xuất khẩu tới 3 tỉ USD nông sản. Có được điều này là nhờ năng suất nông nghiệp của Israel rất cao, xin đưa ra những con số dễ hình dung: Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, còn ngày nay là 90 người. Một hecta đất của Israel hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ; đặc biệt, một con bò của Israel cho tới 11 tấn sữa/năm - đây là năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được. Tất nhiên, chìa khóa thành công của nông nghiệp Israel chính là công nghệ (know - how).

- Do đâu các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel thành công đến vậy ?

Nhờ nước Israel rất nhỏ , đồng ruộng san sát, vì thế các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel rất gần gũi với đồng ruộng. Từ viện nghiên cứu hay trường đại học, họ có thể "đi vèo" tới các cánh đồng. Không bao giờ các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel có thái độ kẻ cả khi tới ruộng. Do gần gũi với nông dân, hoặc chính gia đình mình là nông dân nên các nhà nghiên cứu nông nghiệp giải quyết các vấn đề của đồng ruộng với tư cách bạn bè. Mặt khác, sức ép thiếu đất và nước rất đắt khiến các nhà nghiên cứu nông nghiệp phải bằng mọi cách đẩy năng suất lên cao nhất. Israel là nước phát minh ra hệ thống tưới nhỏ giọt (dip irrigation) điều khiển bằng máy tính, không một giọt nước bị bỏ phí. Trình độ nông dân của Israel cũng rất cao, tất cả họ đều đã học xong trung học; nhiều người sau khi học xong đại học đã quay lại đồng ruộng, sau đó lại mang kinh nghiệm đồng áng của mình tới trường đại học.

- Thường các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel làm việc cho nhà nước hay tư nhân ?

Phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp của chúng tôi làm cho nhà nước. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp (ARO) hay Trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. ARO có 7 viện nghiên cứu con: Viện Rau, Viện Thu hoạch, Viện Vật nuôi, Viện Khoa học Đất-Nước và Môi trường, Viện Bảo vệ Thực vật, Viện Sau thu hoạch và Viện Cơ khí nông nghiệp. Khoa Nông nghiệp của các trường Đại học Hebrew, Đại học Tel Aviv... cũng có chức năng nghiên cứu nông nghiệp. Mỗi năm Israel chi khoảng 90 triệu USD cho nghiên cứu nông nghiệp, trong đó khu vực tư nhân chi khoảng 20 triệu USD.

- Vậy đâu là động lực của các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel ?

Câu hỏi rất thú vị ! Các công ty tư nhân thường trả lương rất cao nên nhà nước cũng phải trả lương cao để giữ chân các nhà nghiên cứu. Nhưng dù các công ty tư nhân trả lương cao hơn, các nhà khoa học vẫn thích làm cho nhà nước, vì nhà nước cho họ điều kiện nghiên cứu tốt hơn. Họ làm việc không hoàn toàn vì tiền, mà trước hết vì khoa học. Ngoài ra, họ cũng có thể đi tư vấn cho các nông trại.

- Sự khác biệt của các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel so với đồng nghiệp ở các nước có nền nông nghiệp phát triển khác, như Mỹ, Hà Lan... là gì ?

Điều này rất khó nói, có thể đó là khác biệt về tâm lí và địa lí. Các nhà nghiên cứu nông nghiệp của Mỹ, Đức, Hà Lan, Trung Quốc... cũng rất giỏi, nhưng có khi vì đất nước của họ quá rộng nên họ bị xa cách với đồng ruộng; cũng có khi vì khí hậu đồng nhất nên họ không thể giải quyết được một lúc nhiều vấn đề. Israel thì ngược lại. Nước chúng tôi nhỏ nhưng địa hình rất phức tạp: có đồng bằng, có núi, có sa mạc, thời tiết cũng rất đa dạng, vì thế các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel phải rất linh hoạt trong tư duy để có thể giải quyết được những vấn đề phức tạp, áp dụng được ở nhiều nơi khác nhau. Mặt khác, như tôi đã nói, các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel không xa cách với nông dân, đặc biệt, luôn coi trọng những kinh nghiệm trong sản xuất của họ.

- Mô hình nông nghiệp Israel liệu có thể áp dụng cho Việt Nam ?

Theo tôi, vấn đề chính của nông nghiệp Việt Nam là bắt kịp khoa học tiên tiến. Nông nghiệp cũng là một loại công nghiệp. Lấy ví dụ ngay việc nuôi bò, vấn đề không phải là nuôi năm ba con, để nó tùy ý đi lại, thỉnh thoảng lại ăn một chút cỏ, mà nên xem nó như một chiếc... ô tô. Phải có "đầu vào" tốt, cung cấp đủ lượng protein, tạo độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, giữ nền chuồng sạch sẽ, thậm chí phải cho... ngủ đủ, "đầu ra" mới có nhiều sữa. Nhờ các nhà kính, hệ thống tưới tiêu có điều khiển, kĩ thuật chọn giống, tiến bộ sinh học... nông nghiệp hiện đại ngày càng ít phụ thuộc vào môi trường. Trình độ của các nhà nghiên cứu nông nghiệp của Việt Nam rất tốt, tuy nhiên nền nông nghiệp của các bạn vẫn lạc hậu, còn rất nhiều thách thức phải vượt qua.

Effie Ben Matityau - Đại sứ Israel tại Việt Nam : Công nghệ cao - thế mạnh hàng đầu của chúng tôi

- Xin Ngài cho biết nét nổi bật nhất trong hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ thời gian qua.

Hợp tác về công nghệ giữa Việt Nam và Israel gần đây đang được triển khai ở nhiều lĩnh vực, trong đó nổi bật nhất là lĩnh vực viễn thông. Các công ty hàng đầu của Israel như RAD, ECI, Comverse và Alvarion đang có những dự án hợp tác rất hiệu quả với đối tác Việt Nam và hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn của Việt Nam như VNPT, Viettel, EVN đều có sử dụng công nghệ của Israel.

- Theo Ngài, đáng lưu ý nhất trong lĩnh vực hợp tác đó là gì?

Chúng tôi không chỉ bán công nghệ, thiết bị mà thường xuyên phối hợp tổ chức các khóa học về viễn thông. Tháng 11/2006, trong dịp một phái đoàn của Bộ Truyền thông – Thông tin (lúc đó là Bộ Bưu chính Viễn thông) có sang thăm Israel. Trong dịp đó, đã có 40 chuyên gia viễn thông của Việt Nam tham dự một khóa học của Israel về chuyên môn. Sau này, các khóa học tương tự vẫn thường xuyên được tổ chức. Các khóa học này thường kéo dài từ một đến ba tháng. Hiện tại chúng tôi đang xây dựng chương trình các khóa học dài hơn (1 năm). Cuối tháng 5 này, Israel sẽ đón một đoàn doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam sang thăm và làm việc trao đổi kinh nghiệm về việc quản lý vệ tinh viễn thông, phục vụ cho việc khai thác, sử dụng vệ tinh VINASAT-1. Đầu tháng 6 tới, chúng tôi sẽ mở ra một ngày công nghệ di động Israel tại Việt Nam, do hiệp hội công nghệ di động Israel tổ chức.

- Theo tôi biết nông nghiệp cũng là một lĩnh vực quan trọng trong hợp tác giữa hai nước, với nhiều dự án khu công nghệ cao về nông nghiệp ở các địa phương. Ngài có thể cho biết đôi điều về sự hợp tác này.

Trong thời gian vừa qua, ngày càng có nhiều địa phương làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp Israel và thấy rằng công nghệ Israel có nhiều thế mạnh, phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Như các bạn đã biết, thiên nhiên không dành cho đất nước chúng tôi nhiều ưu đãi, nhất là về nguồn nước. Điều đó đã thúc đẩy chúng tôi phải thực hiện các một loạt các bài toán giải quyết vấn đề nước cho nông nghiệp. Một công nghệ đang được triển khai ở Việt Nam là phương pháp tưới nhỏ giọt. Với phương pháp này, nước thấm sâu vào đất nên giảm được đáng kể lượng tiêu hao do bốc hơi. Việc tưới tiêu hoàn toàn có thể được điều khiển, do vậy hiệu suất sử dụng nước được tăng lên và đảm bảo đúng chế độ nước của đất theo nhu cầu của từng giống cây trồng. Hiện nay, Việt Nam có nguồn nước dồi dào, nhưng không lâu nữa, tài nguyên này sẽ trở nên khan hiếm. Phương pháp tưới nhỏ giọt sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm được nhiều nước so với phương pháp tưới rãnh và tưới phun truyền thống.

Ngoài công nghệ tiết kiệm nước, chúng tôi còn đang hướng tới việc xây dựng những mô hình trạng trại nuôi bò sữa sử dụng công nghệ Israel ở Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những mô hình trang trại hiện đại, trị giá của mỗi dự án như thế này dự tính lên tới 2 triệu USD. Ở mỗi trang trại như vậy, ngoài những trang thiết bị hiện đại, người chăn nuôi còn được cung cấp các công cụ quản lý bằng máy tính nhằm mục đích liên tục ghi chép dữ liệu về đàn gia súc để từ đó kiểm soát quy trình chăm sóc, phòng bệnh cho gia súc nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao với chi phí thấp và lượng nhân công tối thiểu.

- Nhưng vì sao hiệu quả của sự hợp tác trong nông nghiệp vẫn chưa đạt được mong muốn của cả hai bên ?

Chúng tôi nhận thấy là việc làm cho ai đó thích nghi với công nghệ mới và thay đổi thói quen sản xuất cần thì phải có thời gian. Vì vậy chúng ta cần phải kiên nhẫn hơn. Ở Israel, chúng tôi có lợi thế là có một nguồn nhân lực có trình độ cao làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Đa phần những người làm trong nông nghiệp của Israel có trình độ trên phổ thông hoặc tốt nghiệp đại học. Vì vậy quan hệ giữa người nông dân với các chuyên gia nông nghiệp không có khoảng cách lớn, trình độ có thể nói là tương đương. Sự trao đổi giữa người trực tiếp làm công việc đồng áng với chuyên gia nông nghiệp diễn ra thường xuyên. Mỗi khi các trung tâm nghiên cứu đề ra những công nghệ mới, những người nông dân với nền tảng kiến thức tốt lại được cung cấp đầy đủ thông tin sẽ tự đánh giá và chủ động lựa chọn công nghệ hoặc các sản phẩm phù hợp với thị trường. Như tôi được biết, người nông dân ngày càng có kiến thức cao, cái mà anh ta sản xuất ngày càng nhiều hơn, tốt hơn, anh ta ngày càng giàu hơn.

Ngoài ra, Việt Nam cần chú trọng đầu tư vào nguồn cán bộ nông nghiệp, sử dụng họ như cầu nối giữa người nông dân với công nghệ, và các cán bộ nông nghiệp cần gắn bó với nông dân và đồng ruộng hơn nữa.

- Phải chăng còn một lý do nữa là công nghệ Israel giá thành đắt và các doanh nghiệp Israel không quen cách “lobby” như các đối tác đến từ Đông Á?

Theo tôi, không phải “lobby” mà chính là chất lượng sản phẩm sẽ quyết định sự thành công của hợp tác. Đúng là các sản phẩm của Israel không hẳn là rẻ nhưng bù lại chất lượng rất tốt. Hơn nữa, Israel rất giỏi đáp ứng nhu cầu cụ thể, chi tiết của từng đối tượng khách hàng để phát triển công nghệ, sản phẩm tương ứng. Đấy là khó khăn nhưng tôi nghĩ đó không phải là vấn đề lớn. Tôi hy vọng dần dần người Việt Nam sẽ quan tâm đến chất lượng thực sự của sản phẩm hơn là những thương hiệu quen thuộc và biết đến các sản phẩm của Israel nhiều hơn qua các chương trình giới thiệu. Đấy là một trong lý do tại sao chúng tôi đang tích cực tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu về Israel ở Việt Nam.

- Tôi được biết, Ngài giành rất nhiều thời gian đến các địa phương, các dự án hợp tác giữa hai nước tìm hiểu công việc, điều không phải dễ gặp ở các nhà ngoại giao khác ?

Tôi nghĩ, việc đó là hết sức cần thiết. Để người Việt Nam có cái nhìn toàn diện về đất nước và con người Israel, chúng tôi phải tích cực tạo ra những dịp, những cơ hội tiếp xúc trực tiếp giữa người Israel và người Việt Nam. Với cương vị của một nhà ngoại giao, tôi phải hoàn thành sứ mệnh của mình, làm một cầu nối tình bằng hữu giữa nhân dân hai nước.

- Xin cảm ơn Ngài đã dành thời gian cho cuộc trao đổi và xin chúc mừng Ngài nhân dịp 60 năm Quốc Khánh Israel.
Nguồn: niemtin.free.fr

, ,

Nông nghiệp Israel trong thế kỷ 21


Nền nông nghiệp Israel nổi tiếng trên toàn thế giới đang phải làm gì để đối mặt với những khó khăn ngày càng gia tăng ở thế kỷ 21? Bài viết dưới đây, lược dịch từ một bài báo của Jon Fedler, Tổng biên tập tạp chí Agrictech giải thích các lý do, trong đó chủ yếu là vai trò của khoa học và công nghệ đã mang lại thành công không chỉ ở hiện tại mà cả tương lai cho đất nước này.

Vào khoảng năm 2020, dân số của Israel dự tính sẽ tăng 42% so với hiện nay, đạt con số 8,5 triệu người. Nhu cầu về sản xuất nông nghiệp cũng như các sản phẩm nông nghiệp lúc đó sẽ gia tăng đáng kể. Cùng với đó, diện tích đất đô thị và lượng nước sử dụng chung của cả đất nước cũng ngày một lớn hơn, đặt ra nhiều vấn đề đối với phát triển nông nghiệp. Để đối phó với tình trạng này, Israel tiếp tục phải nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.

Theo một nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Israel, vào năm 2020, lượng nước tưới tiêu cho nông nghiệp của nước này chỉ còn một nửa (700 triệu mét khối/năm) và diện tích đất dành cho nông nghiệp cũng giảm 18% so với hiện nay (360.000 ha). Như vậy, để đạt một sản lượng nông nghiệp tăng khoảng 48% so với mức của năm 1993, nông nghiệp Israel cần có mức tăng trưởng thực khoảng 1,5%/năm.

Nông nghiệp của Israel đã có mức tăng trưởng khá ổn định (trừ một giai đoạn ngắn của những năm 1980), và đóng một vai trò quan trong trong nền kinh tế của nước này. Hiện nay, nông nghiệp đóng góp 2% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chiếm khoảng 3,5% xuất khẩu của Israel. Doanh thu nông nghiệp của Israel vào năm 2000 đạt mức 2 tỉ USD trong đó 70% thuộc về xuất khẩu.

Thành công của nông nghiệp Israel nhờ sự kiên định và sáng tạo liên tục của các nhà khoa học cũng như nông dân đất nước này. Đặc biệt trong điều kiện thời tiết và địa hình không thuận lợi của Israel (hơn một nửa diện tích đất là sa mạc và đất nước có nhiều loại hình khí hậu rất đa dạng, khác biệt).

Nghiên cứu và phát triển 

Sản lượng nông nghiệp liên tục tăng trưởng ở Israel mặc dầu các điều kiện khắc nghiệt về nước tưới tiêu và hạn chế về diện tích đất canh tác. Đây là kết quả của một “hiện tượng Israel”, có một không hai trên thế giới dựa trên sự hợp tác tích cực và chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, hệ thống mở rộng nông nghiệp, nông dân, các dịch vụ và công nghiệp phụ trợ.

Các ứng dụng R&D có định hướng trong nông nghiệp đã được tiến hành tại Israel từ đầu thế kỷ 20. Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của nước này hầu như gắn chặt với khoa học và công nghệ, với các tổ chức Chính phủ, các viện nghiên cứu, công nghiệp và hợp tác xã. Tất cả phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp để giải quyết các vấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải. Đối mặt với hàng loạt các vấn đề, từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác trên đất cằn, R&D trong nông nghiệp của Israel đã phát triển các công nghệ để tạo ra sự biến chuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm nông nghiệp của đất nước. Chìa khóa của thành công này là nhờ các thông tin hai chiều giữa bản thân các nhà khoa học và các nhà nông. Thông qua mạng lưới dịch vụ mở rộng nông nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộ tiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp tới các nhà nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp. Từ đó, các kết quả nghiên cứu khoa học cũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thử nghiệm, thích nghi và điều chỉnh.

Áp dụng công nghệ tưới tiêu hiệu quả trong nông nghiệp
giúp Israel tiết kiệm tối đa tài nguyên nước

Động lực muốn đạt mức tối ưu trong sản lượng nông nghiệp và chất lượng giống đã dẫn tới việc ra đời các loại giống mới, đối với giống cây trồng hoặc súc vật nuôi, tới các cải tiến trong tưới tiêu, phân bón, thiết bị nông nghiệp, tự động hóa, hóa học, canh tác và thu hoạch. Nhờ vậy, các phát kiến khoa học và công nghệ này không chỉ phục vụ nông nghiệp trong nước mà rất nhiều trong số đó đã được xuất khẩu ra nước ngoài.

Cơ giới hóa và công nghệ nông nghiệp

Nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng sản lượng, cải thiện chất lượng và tiết kiệm nhân công, các sáng chế về máy móc nông nghiệp cũng như thiết bị điện tử phụ trợ đã được ra đời và áp dụng nhanh chóng và rộng rãi vào đời sống. Đặc biệt là các máy móc, thiết bị phục vụ đất trồng trọt, chống xói mòn, các máy gieo hạt, thu hoạch và các thiết bị phù hợp cho thâm canh tăng vụ, tưới tiêu (tự động hóa)… Nhiều thiết bị tự động khác cũng được sử dụng trong chăn nuôi như máy vắt sữa, máy thu hoạch trứng, các hệ thống cho ăn tự động… Rồi thì các máy móc phục vụ sau thu hoạch như máy phân loại sản phẩm, máy đóng gói, hệ thống kho trữ và đặc biệt là hệ thống vận tải chuyên biệt. Những công nghệ phát triển trong nước cũng chú trọng tới việc kiểm soát bón phân tự động hóa (thông qua hệ thống máy tính), có thể bón phân qua nước tưới tiêu, các biện pháp kiểm soát độ ẩm, tạo môi trường trong lành cho trồng hoa, các thực phẩm trái mùa…

Sự can thiệp của Chính phủ

Bộ Nông nghiệp Israel hỗ trợ và kiểm soát toàn bộ các hoạt động nông nghiệp của đất nước, gồm cả việc duy trì các tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm cây trồng và vật nuôi, đề ra các kế hoạch thúc đẩy, phát triển nông nghiệp thông qua các hoạt động nghiên cứu và thị trường (kể cả marketing). Từ nhiều năm nay, nông nghiệp Israel được Chính phủ nước này kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống trợ cấp sản xuất và định mức nước tiêu thụ cho mỗi mùa vụ. Hiện nay, nước này cũng kiểm soát định mức sản xuất và chất lượng của một số sản phẩm nông nghiệp như sữa, trứng, gà con và khoai tây.

Các chương trình nghiên cứu nhằm gia tăng lượng nước để tưới tiêu cũng đang được tiến hành, chủ yếu thông qua tăng lượng nước mưa (tạo mưa nhân tạo), khử mặn trong nước và sử dụng các hệ thống lọc nước để tái sử dụng. Các nghiên cứu mới đã dẫn tới việc khai thác nước mặn ở các bể chứa nước khổng lồ tại sa mạc Negrev, dùng cho một số giống cây phù hợp.

Việc kiểm soát lượng nước tiêu thụ bằng định mức chủ yếu được thực hiện thông qua biện pháp giá, kiểm soát nước được bơm từ lòng đất và các dự án cung cấp nước sắp ra đời. Một chương trình kiểm soát nước mới được ra đời trong đó cắt giảm lượng nước sạch cung cấp cho nông nghiệp, thay vào đó, gia tăng việc tái sử dụng nước đã qua sử dụng ở các khu vực đô thị, mở rộng việc sử dụng nước được khử mặn, giảm việc thâm canh sử dụng nhiều nước, tăng cường các hệ thống trữ nước vào mùa lũ, phát triển các ngôi nhà xanh thân thiện với môi trường và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình khử mặn trong nước biển.

CNC trong nông nghiệp

Các nhà kinh tế thường tranh luận xem liệu sự lựa chọn của nông nghiệp sẽ như thế nào nếu cứ trồng và xuất khẩu một cân khoai tây với giá khoảng 5 USD với việc bán ra nước ngoài, cũng là một cân giống khoai tây lai, có giá lên tới 7.000 USD. Và muốn làm được như vậy, không có cách nào khác là phải sử dụng tới công nghệ cao trong nông nghiệp. Và Israel cũng nhận thức rõ rằng đây là con đường duy nhất để nông nghiệp nước này tiếp tục tồn tại. Trên thực tế, mãi lực thị trường trong nước và nước ngoài, sự hiếm hoi đất nông nghiệp, nhân công hạn chế và đặc biệt là thiếu nước tưới tiêu đã là các động lực lớn nhất biến đổi toàn bộ nông nghiệp Israel.
Áp dụng CNC trong chăn nuôi và khai thác sữa là đặc điểm điển hình của Israel

Một xu hướng ngày càng phát triển ở Israel là đang có bước chuyển giữa các trang trại thâm canh tăng vụ, các nhà sản xuất nông nghiệp truyền thống lớn sang các loại hình sản xuất dựa trên khoa học và R&D, thí dụ như sản xuất các loại khoai tây lai có khả năng kháng virus cao, hay các loại chuối cây thân nhỏ nhưng năng suất cao.

Bên cạnh đó, nông dân Israel cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn. Một mặt, họ phải đương đầu với nông sản giá rẻ nhập khẩu từ các nước láng giềng, mặt khác là phải phù hợp với các tiêu chuẩn mới về nhập khẩu nông sản theo Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Cũng như nhiều nước khác, nông nghiệp Israel cũng phải chịu áp lực bởi lượng nhân công phục vụ trong lĩnh vực này ngày càng ít đi (giảm 40% từ năm 1960 tới năm 1996). Mặc dầu vậy, lượng nhân công ít ỏi trong nông nghiệp ngày nay lại đem lại sản lượng lớn hơn so với trước kia. Trong đầu những năm 1950, một nông dân có thể cung cấp đủ lương thực cho 17 người thì vào năm 1994, mỗi người trong số họ đã có thể nuôi được 90 người.

Phần lớn nông nghiệp của Israel được tổ chức theo hình thức hợp tác xã, hình thành từ các thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Thúc đẩy bởi cả ý tưởng và hoàn cảnh thực tế, các nhà tiên phong đã tạo ra hai hình thức nông nghiệp mới: kibbuttz, một cộng đồng tập thể với phương tiện sản xuất chung và mỗi thành viên được hưởng lợi ích từ công việc của chính mình. Và moshav, kiểu hợp tác xã của làng trong đó mỗi thành viên sử dụng đất của mình để sản xuất, nhưng đầu vào và đầu ra (kể cả marketing) được thực hiện tập thể, theo một đầu mối. Cả hai hình thức lao động tập thể này đều được tạo ra để hiện thực hóa giấc mơ cộng đồng nông nghiệp dựa trên bình đẳng xã hội, hợp tác và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, sản lượng nông nghiệp của các hợp tác xã này vẫn chiếm đa số áp đảo trong sản xuất nông nghiệp, kể cả phục vụ thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.
Nguồn: Tia Sáng

23 tháng 3, 2013

, , ,

Xây dựng nông thôn mới của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới

Người nông dân ở mỗi quốc gia, mỗi vùng miền đều trải qua quá trình phát triển khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện của loại hình canh tác và bối cảnh lịch sử của mỗi khu vực cũng như phụ thuộc vào sự phát triển của môi trường sinh thái. Năng suất và sản lượng phụ thuộc vào chính sách quốc gia, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, giáo dục, thông tin và văn hóa khu vực. Dù bất cứ hoàn cảnh nào, người nông dân cũng được đánh giá cao và đáng được tôn trọng.

Chúng ta hãy cùng khám phá về một số khía cạnh mà nông thôn mới ứng dụng ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới nhé.

Nông thôn ở Hà Lan: Sự kết hợp thành công giữa nông nghiệp và công nghiệp 

Hoa được trồng trong hệ thống nhà kính tiêu biểu ở Hà Lan
Hà Lan đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là nông nghiệp cây trồng trong nhà kính và yếu tố thành công này chính là hạt nhân “nông thôn mới” ở đây. Tỷ lệ sản xuất rau quả và hoa góp phần cung cấp nhu cầu khổng lồ trên toàn thế giới. Các nhà quản lý và xây dựng hình tượng nông thôn mới ở Hà Lan đã rất xuất sắc trong việc nắm bắt các thị trường khác về hoa, cây cảnh và các sản phẩm vườn ươm. Bên cạnh hoa tulip là loại hoa làm cho Hà Lan trên thế giới, các loại hoa khác như hoa hồng, hoa cúc, hoa cẩm chướng cũng là đặc sản mà Hà Lan sản xuất trong các “nhà máy kính” chiếm tỷ lệ lớn sản xuất hoa của thế giới.

Hệ thống sản xuất và phân phối của nông dân Hà Lan được tổ chức rất tốt ở tất cả các quy trình. Việc trồng cây trong nhà kính đại diện cho hình thức nông nghiệp nhân tạo thành công. Đây là quá trình nỗ lực sử dụng các kỹ thuật như trong ống nghiệm tăng trưởng, thủy văn, chế ngự khí hậu hoàn toàn chủ động. Đây là loại hình sản xuất có sự kết hợp của các hoạt động công nghiệp và nông nghiệp.

Nông thôn Pháp: Trồng nho làm rượu vang 


 Guy Lautier là một nhà nông sống ở Puisserguier là một ví dụ điển hình của nông thôn mới Pháp. Kể từ khi cuộc cách mạng trong giao thông vận tải vào cuối thế kỷ 19, khu vực này được độc quyền dành riêng cho sự phát triển của nho để sản xuất rượu vang. Cây nho được trồng trên các vùng đất thấp và người nông dân phải đối mặt trong những thời điểm trì trệ, khó khăn riêng của họ. Mất một thời gian dài, người nông dân Pháp đã học được cách thức tự tổ chức thành các hợp tác xã, đoàn thể. Trong mỗi làng đều có hợp tác xã sản xuất, các cửa hàng, cửa hiệu bán rượu vang. Vì thế, làng thôn quê ở Pháp khá tấp nập và trở nên đáng yêu.

Nông dân Pháp đã từng gặp nhiều khó khăn từ các cuộc khủng hoảng của tiêu thụ rượu vang giảm, nhu cầu chất lượng trên thị trường đòi hỏi cao hơn, yêu cầu vượt ra ngoài biên giới quốc gia, giờ đây bằng những cố gắng của mình, nông dân Pháp đã khá thành công ở nhiều lĩnh vực. Hợp tác xã ở Puisserguier do Guy Lautier đứng đầu đã đổi mới trong việc tái tổ chức cơ cấu, cải thiện các giống cây trồng và các phương pháp sản xuất rượu vang, giao dịch tiếp thị với các khách hàng tiềm năng. Tất cả những điều này đã làm thay đổi và hiện đại hóa cách thức của người nông dân. Nhà sản xuất rượu vang của Languedoc-Roussillon ngày nay đã trở thành nhà sản xuất các loại rượu vang tuyệt đỉnh đang được bán trên toàn thế giới.

Nông thôn Mỹ: Ứng dụng công nghệ cao và quản lý tốt 

 
Hoa Kỳ là quốc gia có diện tích đất canh tác lớn cho các hoạt động nông nghiệp. Đây là một nền nông nghiệp có “cơ ngơi” lớn và được “trang bị cơ giới hóa” rất tốt. Năng suất sản xuất của mỗi người nông dân ở Mỹ cao nhất trên thế giới. Mỹ là một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp trên thế giới.

Các nông trang ở Mỹ cũng đa dạng với nhiều quy mô khác nhau. Nhiều nhà nông nuôi trồng các trang trại của họ như là một hình thức bán thời gian. Họ là những người nông dân có trình độ như đại học, cao học... Ngành nông nghiệp Mỹ sử dụng công nghệ cao và áp dụng quản lý nghiêm ngặt. Nông nghiệp Mỹ rất phụ thuộc vào thị trường quốc tế. Các nông trang nhỏ thường không chắc chắn và có rủi ro trong nợ nần nhưng họ được hỗ trợ bởi các cơ quan công quyền.
Nguồn: Ashui