Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

2 tháng 4, 2013

, , ,

Thơ gửi hiệp hội Bất Động Sản

29 March 2013

“Mặt trời trong tôi lặn để bình minh lại đến…My sun sets to rise again” – Robert Browning

Kính thưa Quý Vị

Dù chỉ mới nhận được 15 câu hỏi “chất vấn” của Quý Vị qua báo chí, tôi cũng xin phản hồi sớm vì sự mong đợi của rất nhiều đọc giả; cũng như để tỏ lòng tôn kính với “1,000 (?) đồng nghiệp” của tôi. Tôi cũng đã từng làm một nhà đầu tư dự án BDS (real estate developer) ở tận xứ Mỹ xa xôi vào cuối thập niên 1970’s. Sau 7 năm huy hoàng với lợi nhuận, tôi và các đối tác đã trắng tay trả lại mọi vốn và lời trong dự án lớn ở Arizona vào năm 1982. Do đó, tôi khá đồng cảm với trải nghiệm “của thiên trả địa” hiện tại của Quý Vị.

Tôi không quen bị “chất vấn”, không phải là một cậu học trò phải thi trắc nghiệm, cũng không có “quyền lợi” hay “nghĩa vụ” gì trong tình huống này, nên xin phép được trả lời các bậc đàn anh theo phong cách của mình. Vả lại, những chi tiết nhỏ nhặt của 15 câu hỏi đã được “trả lời” qua các bài viết của tôi trong vài năm qua (còn lưu lại tại www.gocnhinalan.com). Thêm vào đó, nhiều BCA (bạn của Alan) cũng đã ra công sức phản biện qua các lời bình trên trang web này và các mạng truyền thông khác. Quý Vị tự tìm tòi nhé.

Cốt lõi của vấn đề

Một khuynh hướng chung khi tìm giải pháp cho vấn nạn BDS hiện nay của Việt Nam là đóng khung bài toán trong các công thức tài chánh. Vài doanh nghiệp BDS nhờ tôi tư vấn tìm vốn vì họ nói không thể tiếp cận được các nguồn tài trợ. Câu trả lời của tôi là vấn đề BDS thuộc chuyện thị trường.

Vốn trong dân tại Việt Nam được các nhà chuyên gia nước ngoài ước tính vào khoảng 60 tỷ US dollars; và vốn từ Việt kiều và các nhà đầu tư ngoại có thể lên thêm khoảng 20 tỷ (các số liệu này có thể sai nhưng chúng ta sẽ không bao giờ tìm được một thống kê chính xác và chính thống về các con số nhậy cảm ở Việt Nam). Tuy nhiên, dù với con số nào, số tiền này cũng thừa đủ để giải quyết mọi hàng BDS tồn kho.

Trên góc cạnh thị trường, khi người bán đáp ứng được nhu cầu người mua về sản phẩm và dịch vụ (gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là giá cả và chất lượng) thì giao dịch xẩy ra. Do đó, câu hỏi cốt lõi là những BDS mà quý vị đã và đang sản xuất có mức giá và chất lượng theo đúng nhu cầu của người tiêu dùng chưa? Theo tôi biết, nhu cầu về phân khúc nhà cho người thu nhập thấp rất cao; nhưng sản phẩm gần như quá ít. Trong khi đó, nguồn cung cầu tại phân khúc nhà cao cấp lại mất cân bằng và lượng tồn kho có thể phải mất 10 năm mới tiêu thụ hết.

Tóm lại, khủng hoảng BDS hiện nay là một tính toán sai lầm của nhà sản xuất BDS về giá cả và loại hàng.

Giá thành quá cao?

Nhiều người trong Quý Vị biện bạch là giá BDS cao ngất trời vì giá đất, giá nguyên vật liệu, chi phí hành chánh và bôi trơn…quá cao. Thật tình, lý giải này chỉ chứng tỏ tính chất làm ăn thiếu hiệu quả vì không biết những tính toán căn bản về đầu tư cho dự án; cũng như cho thấy yếu kém của các quyết định bầy đàn và chụp giựt.

Nhưng đôi khi, tình thế ngoại vi cũng có thể làm sai trật mọi tính toán. Chẳng hạn khi tôi bắt đầu dự án Arizona nói trên vào 1979, chúng tôi đã không ngờ là lãi suất lên đến 16-18% mỗi năm khi hoàn tất, thay vì 8-9% như dự tính. Giá nhà vẫn hợp lý, nhưng phần lớn người Mỹ mua nhà bằng tín dụng, nên dự án phải phá sản. Dù không phải lỗi của chủ quan, nhưng chúng tôi hiểu rõ luật chơi của thị trường và cúi đầu chấp nhận.

Người mua nhà, hay ngay cả vợ con bạn bè của Quý Vị, thật sự không quan tâm đến lý do tại sao giá nhà lại cao hay thấp thế này? Vừa mua thuận bán thôi.

Một chút lịch sử

Dĩ nhiên, tất cả bàn luận trên đây dựa trên quy luật thị trường. Nhiều bạn sẽ nói là nền kinh tế chúng ta có “định hướng xã hội” nên chánh phủ phải nhẩy vào can thiệp hay cứu trợ khi “con cái” gặp hoạn nạn.

Chắc Quý Vị còn nhớ, có khi giá nhà đất lên cao cả mấy trăm phần trăm mỗi năm vào thập kỷ 1995-2006, không ai kiến nghị chánh phủ phải can thiệp để cứu người tiêu dùng bằng cách ngăn chận mọi sự tăng giá (nhiều khi phi pháp). Các nhà sản xuất BDS quên mất “định hướng xã hội” của Viêt Nam và ủng hộ triệt để nguyên lý thị trường.

Bây giờ, vào nửa hiệp sau của trận bóng, các cầu thủ lại yêu cầu trọng tài áp dụng một luật chơi mới? Tính bất nhất này làm mọi biện luận của Quý Vị trở nên ngây ngô cùng ngạo mạn.

Hệ quả khi bong bóng BDS nổ

Trước hết, khi nói về hệ quả, tôi xin mọi người ghi nhận công trạng của những nhà đầu cơ BDS trong việc tạo ra khủng hoảng hiện nay. Tất cả những suy thoái, trì trệ và việc kém hiệu quả trong các đầu tư để công nghiệp hóa hay gia tăng sản lượng nông, hải , sản…đều có thể truy nguồn đến những bong bóng tài chánh như BDS, chứng khoán và ngân hàng. Khi dòng tiền tấp nập chảy về lãnh vực này để hưởng lợi nhuận dễ dàng và nhanh chóng, chúng ta đã hy sinh những đầu tư xã hội cần thiết và dài hạn như y tế, giáo dục, công nghệ cao, nông nghiệp…Tai hại của sự lãng phí và tham ô trong việc sử dụng tài lực quốc gia này sẽ làm cả dân tộc trả giá trong nhiều thập kỷ sắp đến.

Nếu nhìn từ định hướng CNXH, các doanh nhân và quan chức có liên hệ đến việc đầu cơ, thao túng và lèo lái dòng tiền đầu tư…để thổi phồng các bong bóng tài sản đều có thể bị kết tội dưới nhiều luật lệ. Hú hồn. May mà Quý Vị còn chữ “kinh tế thị trường” để mà núp bóng.

Ngoài ra, về các hệ quả tương lai khi bong bóng BDS nổ, Quý vị đã tự đặt cho mình một vị trí quá quan trọng trong nền kinh tế chung. Dĩ nhiên có thể hơn 50% các doanh nghiệp kinh doanh BDS và vật liệu xây dựng cũng như 50% các ngân hàng nhỏ yếu sẽ chết vì nợ xấu…nhưng tôi chắc chắn là “không có Mợ thì chợ vẫn đông”. Thực ra, những doanh nghiệp, ngân hàng…này cũng đã chết lâm sàng rồi. Họ kéo dài hơi thở để đợi chút oxygen từ tiền thuế và phí của người dân. Hiện tại, họ không đóng góp chút gì cho sản lượng quốc gia trong khi tiếm dụng một phần nguồn lực không nhỏ.

Về các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, một số lớn đã ngất ngư vì không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, Thái Lan…tại sân nhà hay sân người. Đổ lỗi cho tình hình BDS chỉ là một thủ thuật phát sinh từ thói quen lười biếng.

Con ngáo ộp thứ hai Quý Vị đem ra hù dọa là con số vài chục ngàn trong số 53 triệu công nhân toàn quốc (với tỷ lệ thất nghiệp khoảng 2.2% theo thống kê nhà nước) sẽ bị ảnh hưởng khi bong bóng BDS nổ tung. Nếu nền kinh tế chúng ta phát triển bền vững và bài bản, sự tạo ra việc làm cho các công nhân này chỉ là chuyện nhỏ.

Con ngáo ộp thứ ba của Quý vị là các người dân bỏ tiền trong các ngân hàng sẽ chịu mất mát khi vài ngân hàng đóng cửa. Theo tôi hiểu, mỗi tài khoản hiện nay được bảo hiểm đến 50 triệu VND và đang được NHNN đề xuất lên 100 triệu VND (vì lạm phát nhiều năm qua). Tỷ lệ mất mát cho những tài khoản trên 100 triệu VND tại các ngân hàng sẽ rất nhỏ; vì các nhà đa triệu phú thường không ngu để mất tiền như Quý Vị tiên đoán. Họ có nhiều giải pháp sáng tạo hơn Quý Vị và nhà nước nhiều.

Những hệ quả tích cực

Trong bài “Thị trường sẽ cứu chúng ta” (www.gocnhinalan.com) tôi đã ghi nhận 5 hệ quả tích cực hơn khi bong bóng BDS nổ. Đó là số lượng vài trăm ngàn gia đình lần đầu sở hữu một căn nhà vừa túi tiền, hiện tượng tâm lý “an cư lạc nghiệp” tạo cú kích cầu tiêu dùng, gây lại niềm tin cho kinh tế, loại bỏ các thành phần phi sản xuất yếu kém, tăng thu ngân sách và thu hút đầu tư nội ngoại.

Trong đó, quan trọng nhất là việc tạo một tầng lớp trung lưu mới, hết sức cần thiết cho mọi sự phát triển bền vững. Nhìn qua các xã hội đã mở mang tại Âu Mỹ Nhật Úc, tầng lớp trung lưu với những tài sản thâu góp được thường là đầu tàu cho chiếc xe kinh tế. Họ tạo ra thị trường tiêu dùng lớn nhất, họ đóng thuế nhiều nhất, họ làm việc cần cù nhất, họ nợ nhiều nhất (tốt cho ngân hàng và các ông chủ), họ có niềm tin cao nhất vào đất nước …vì họ có quá nhiều thứ để mất. Một xã hội bất ổn là khi phần lớn người dân không có gì để mất.

Hệ quả khi bong bóng không nổ

Tôi thì lại lo sợ về những hệ quả trái ngược nếu quyền lực của Quý vị thành công và thuyết phục nhà nước bơm tiền dân cứu Quý Vị và các ngân hàng yếu kém.

Trước hết, nền kinh tế zombies (xác chết biết đi) này sẽ kéo dài ít nhất là một thập kỷ nữa.

Khi phải in tiền đủ để cứu trợ, nạn lạm phát sẽ bùng nổ lại và tỷ giá VND sẽ rơi. Nhiều người đã quay qua Mỹ quan sát về các gói cứu trợ ngân hàng tư và đề nghị NHNN dùng giải pháp này cho Việt Nam. Một ghi chú nhỏ: chánh phủ Mỹ cho các ngân hàng này vay vốn với lãi suất cực rẻ; nhưng không cứu các doanh nghiệp hay giá BDS; và sau khi gây lại vốn sở hữu bị mất trong cuộc khủng hoảng tài chánh 2008, hầu hết các ngân hàng đã trả tiền lại cho chánh phủ. Giải pháp này không thể thực hiện ở Việt Nam vì các ngân hàng thương mại Việt không đủ uy tín, thương hiệu, tầm cỡ, tính minh bạch hay khả năng quản trị để tiếp cận nguồn vốn nội hay ngoại (vẫn rất dồi dào).

Chánh phủ hiện đã bội chi vì các vấn đề kinh tế xã hội từ khủng hoảng và nguồn thu từ thuế và phí đang bị thu hẹp đáng kể. Dùng những tài lực hiếm hoi để nuôi các zombies phi sản xuất là kéo dài cuộc suy thoái cho các thành phần khác trong nền kinh tế.

Nhưng tệ hại nhất là khi tung tiền cứu nguy cho “bồ nhà”, chánh phủ sẽ gởi một thông điệp bào mòn mọi niềm tin còn sót lại của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là: “mọi sai phạm lầm lẫn sẽ được che đậy và bảo vệ; và các quy luật của thị trường có quyền đi “nghỉ mát” khi quyền lợi của các nhóm lợi ích bị xâm phạm”.

Những giải pháp sáng tạo

Sau cùng, nếu con phượng hoàng có thể bay lên từ đống tro tàn thì các zombies cũng có thể tái tạo lại một đời sống mới. Trong nền kinh tế trí thức toàn cầu này, sáng tạo vẫn là một điều kiện tiên quyết cho mọi doanh nghiệp.

Tôi không kinh doanh BDS từ năm 1982, nên tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Nhưng tôi nhận thấy có những đại gia “thật lớn” của BDS đã phát triển mạnh trong khủng hoàng này. Bầu Đức của HAGL chọn giải pháp “xuất ngoại” khi bán tháo BDS tại Việt Nam và đem tiền đổ vào Lào và Myanmar. Ngài Vượng của Vincom đạt được danh tỷ phú đô la với phân khúc trung tâm thương mại cao cấp trong thời bão táp. Mr. Quang của Nam Long thì thành công với vốn ngoại và mô hình EHome cho phân khúc trung lưu. Các trường hợp phát triển như anh Thìn Đất Xanh hay anh Đực Đất Lành là những thí dụ khác.

Trong lãnh vực vật liệu xây dựng, sản phẩm nhà tiền chế theo dây chuyền hay các vật liệu từ công nghệ cao và xanh đã biến nhiều doanh nhân thế giới thành tỷ phú. Trí tuệ Việt chắc chắn phải có rất nhiều…Ngô Bảo Châu…trong ngành BDS. Đây là tương lai của BDS Việt trong mong đợi của mọi người; không phải hình ảnh của các zombies níu kéo vào dây trợ sinh trên giường bệnh.

Thay cho lời kết

Tôi thực sự khâm phục khả năng lobby của Hiệp Hội BDS và các thành viên. Tạo được một bong bóng khiến giá trị BDS lên đến 25 lần thu nhập trung bình của người dân là một thành tích đáng ghi vào kỷ lục Guinness. Tôi cũng tiên đoán là chánh phủ rồi cũng sẽ tung nhiều gói cứu trợ BDS mặc cho sự can gián của nhiều chuyên gia và đa số người dân. So với Quý Vị, tiếng nói của chúng tôi không đủ trọng lượng để chánh phủ lưu tâm.

Do đó, cuộc tranh cãi nên dừng lại ở đây để những người dân chưa có nhà không nên kỳ vọng vào một phép lạ trong tương lai gần.

Nhưng trong sâu thẳm, tôi vẫn mang nhiều hy vọng. Có thể một lúc nào đó, những tinh hoa của đất Việt sẽ quên đi quyền lợi cá nhân của mình và gia đình…để san sẻ lại cho các người dân kém may mắn hơn. Không phải để làm từ thiện, mà nhận trách nhiệm rộng lớn hơn với cộng đồng, và với thế đứng của Việt Nam trên thương trường quốc tế. Để doanh nhân Việt được tự hào với tư duy sáng tạo cởi mở và khả năng vượt khó bền bỉ. Để thế hệ sau còn có chút niềm tin và lực đẩy khi họ phải ra biển lớn cạnh tranh.

Riêng đối với những vị đã mất mát tài sản vì sai phạm đầu tư, tôi xin chia sẻ nơi đây câu thơ của tiền nhân mà tôi tự an ủi mình sau khi ký giấy trao lại cho ngân hàng toàn bộ dự án Arizona và ra đi với bàn tay trắng,” Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu…Gặp thời thế thế thì phải thế”. Dù sao, chỉ 3 năm sau đó, tôi lại kiếm được nhiều tiền hơn trong một mô hình kinh doanh khác.

Mong Quý vị mọi điều may mắn và mong tinh thần “kẻ sĩ” mãi cháy sáng trong cuộc đời Quý vị.
Thân ái,
Alan Phan

Tham khảo: Các bài về BDS từ trang 185 của cuốn sách “Đi Tìm Niềm Tin Thời Internet” của Alan Phan do nhà sách Thái Hà xuất bản (2012). Và các bài về BDS trên web site www.gocnhinalan.com.
Những ảnh hưởng tích cực sau đây sẽ quay về giúp nền kinh tế tiến về một định hướng bền vững hơn.

  1. Khi đa số người dân sở hữu một căn nhà, tầm nhìn và niềm tin của họ vào tương lai vững vàng hơn. Bây giờ họ có một tài sản gì để mất; do đó, sự đóng góp của họ vào nền kinh tế sẽ năng động và tích cực.

  2. Niềm tin này mới là “gói kích cầu” quan trọng hơn cả cho thị trường tiêu dùng và nó sẽ kích hoạt các cơ sở công nghiệp cũng như nông nghiệp gia tăng sản xuất, giảm lượng tồn kho và cải thiện năng suất lao động để cạnh tranh. Nên nhớ là tiền dự trữ trong dân nhiều gấp 3 lần tiền dự trữ của chánh phủ;

  3. Khi các zombies (xác chết biết đi) bị loại bỏ khỏi hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán, những định chế sống sót sẽ mạnh hơn nhờ thị phần gia tăng; sẽ chăm chú hơn vào ngành nghề cốt lõi (sau bài học đầu tư đa ngành) và lo trau luyện những kỹ năng cần cho sự cạnh tranh dài hạn;

  4. Lạm phát hay tỷ giá sẽ không tăng tốc lâu dài, vì chánh phủ không cần in tiền thêm để cứu ai (một thông điệp rất rõ cho các DNNN) và ngân sách sẽ bội thu nhờ thuế phí tăng thu từ sự tăng trưởng GDP; cũng như nguồn ngoại tệ sẽ dồi dào hơn với sinh lực mới của khu vực xuất khẩu;

  5. Khi kinh tế vĩ mô ổn định và khi luật thị trường thay thế luật “hành dân”, niềm tin quay lại với các nhà đầu tư quốc tế và kiều hối. Kênh ngoại tệ này sẽ thâu ngắn sự hồi phục và giúp chúng ta một lợi thế cạnh tranh mới.
Nguồn: Góc nhìn Alan
, ,

Từ KAMCO nghĩ về VAMC

Chính phủ Hàn Quốc quyết định mở rộng chức năng và sử dụng KAMCO như một công cụ xử lý các khoản nợ xấu chung...

Các ngân hàng Hàn Quốc đã giảm mạnh được các khoản nợ xấu nhờ sự giúp sức của KAMCO.

Những gì liên quan đến đề án thành lập Công ty Quản lý Nợ xấu Việt Nam (VAMC) luôn được thị trường tài chính quan tâm. Trong đó, đáng quan tâm nhất là chiến lược và cách thức hoạt động của VAMC. Vấn đề này đến nay vẫn còn nằm trên bàn dự thả và đang gây nhiều tranh cãi.

Tuy nhiên, nếu xét kỹ, quy trình sơ bộ VAMC vạch ra lại có phần giống với KAMCO, công ty quản lý tài sản của Hàn Quốc. KAMCO ra đời năm 1962 nhằm quản lý các khoản nợ xấu của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc. Đến tháng 11/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định mở rộng chức năng và sử dụng KAMCO như một công cụ xử lý các khoản nợ xấu chung cho cả hệ thống.

Một quỹ dưới quyền KAMCO ra đời với nhiệm vụ mua lại các khoản nợ xấu từ hệ thống tài chính và được phát hành trái phiếu dưới sự bảo lãnh của Chính phủ. Quy mô của quỹ này ban đầu là 1.500 tỉ won (tương đương 1,34 tỉ USD tính theo tỉ giá hiện tại), sau đó nhiều lần được tăng lên trong suốt giai đoạn khủng hoảng châu Á.

Mùa thu 1997, bảng cân đối tài sản của các tổ chức tài chính Hàn Quốc xấu đi một cách nghiêm trọng. 14/26 ngân hàng thương mại có tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 8%. Có 2 ngân hàng phá sản về mặt kỹ thuật (có vốn chủ sở hữu âm). 28/30 ngân hàng đầu tư của Hàn Quốc cũng lâm vào tình trạng này.

Khi nhập cuộc, KAMCO đã chia các khoản nợ ra thành 4 loại: các khoản vay thông thường, các khoản vay đặc biệt (đang chờ xử lý nợ từ tòa án), các khoản vay Daewoo (liên quan đến Tập đoàn Daewoo) và khoản nợ nằm ngoài xử lý của tòa án. KAMCO đã mua lại với mức giá gần 18% so với giá trị thị trường đối với các khoản nợ có tài sản thế chấp, nhưng đối với khoản nợ không thế chấp thì chỉ 5,8%.

Ban đầu, KAMCO không thể xác định đúng mức giá mua. Nếu như trước tháng 7/1998, KAMCO trả tới 70-75% giá trị tài sản đảm bảo thì sau đó, con số này giảm xuống còn 45% trong công thức tính giá mua.

Phần lớn nợ của KAMCO mua lại xuất phát từ ngân hàng, tương ứng với 62,1% lượng tiền công ty này bỏ ra từ tháng 11/1997 đến tháng 11/2002. Tuy nhiên, giá trị mua lại nợ của ngân hàng cũng khá cao, trung bình 40% giá thị trường.

Để mua các khoản nợ này, KAMCO đã trả cho người bán trái phiếu được Chính phủ đảm bảo với kỳ hạn 5 năm. Trái phiếu này được niêm yết và giao dịch trên sàn chứng khoán Hàn Quốc với lãi suất thả nổi và trả theo từng quý. Nhưng yếu tố then chốt giúp KAMCO thành công, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), là tổ chức này đã tạo lập được một thị trường mua bán nợ. KAMCO đã sử dụng nhiều cách thức để thanh lý nợ như bán cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức đấu giá công khai, mời chào hợp tác, thậm chí là tự mình đi thu hồi nợ.

Kết quả mang lại khá mỹ mãn. Tỉ lệ phục hồi trung bình (tức giá trị thanh lý của KAMCO chia cho giá trị thị trường của các khoản nợ) lên đến 46,8% trong giai đoạn 1997-2002. Nghĩa là KAMCO xem như đã thu hồi được gần một nửa giá trị các khoản nợ xấu của hệ thống. Tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng cũng giảm từ mức 16,8% (tháng 3.1998) xuống còn 2,3% (tháng 12/2002). Còn nếu tính chung cho cả hệ thống tài chính, tỉ lệ này đã giảm từ mức 17,7% xuống còn 3,9%.

Hàn Quốc có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Chẳng hạn, cả hai có chung chiến lược tăng trưởng dựa trên các tập đoàn. Tín dụng theo hình thức chỉ định, phân phối chủ yếu cho những tập đoàn chủ lực và được cung cấp từ hệ thống ngân hàng do Chính phủ chi phối.

Mặc dù có một số điểm tương đồng về cơ bản, nhưng hoạt động của VAMC và KAMCO có một điểm khác biệt quan trọng. Đó là nguồn tiền để thực hiện việc mua lại nợ xấu.

Chính phủ Hàn Quốc đã chấp nhận bù lỗ cho KAMCO bằng tiền ngân sách. Còn ở Việt Nam, Tiến sĩ Võ Trí Thành cho biết, theo đề án thành lập VAMC, nguyên tắc của việc xử lý nợ là sẽ không sử dụng tiền ngân sách.

Về điều này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng đó là do những người soạn thảo đề án đang chịu một sức ép: không sử dụng tiền thuế của dân để hạn chế vấn đề lợi ích nhóm. Một nguyên nhân khác, theo ông Thành, có thể là do ngân sách nhà nước không đủ.

Vậy tiền sẽ đến từ đâu? Từ tổ chức đầu tư trong nước, bên ngoài, hay tổ chức quốc tế? Trên thực tế, ngay cả Hàn Quốc cũng buộc phải nhận tiền hỗ trợ từ IMF. Thái Lan và Indonesia cũng vậy.

Nhưng điều kiện vĩ mô Hàn Quốc lúc bấy giờ và Việt Nam hiện tại có quá nhiều khác biệt. Và có vẻ như Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng cách thức “lấy mỡ nó rán nó” để xử lý các khoản nợ xấu của ngân hàng. Nghĩa là các ngân hàng vẫn tự quản lý nợ của mình, còn VAMC sẽ tài trợ thêm tiền để ngân hàng thực hiện. Số tiền này phải được trả lại cho VAMC trong 5 năm. Điều này khiến một số người nghi ngờ tính hiệu quả của VAMC, khi các công ty quản lý nợ xấu trên thế giới đều mua đứt bán đoạn các khoản nợ.

Ngược lại, trong trường hợp Chính phủ Việt Nam có đủ tiền, bài toán cần giải là những công thức tính giá mua bán lẫn cách thức phân loại nợ xấu nào sẽ mua.

Dù sao đi nữa, con đường thành lập VAMC là đúng vì các quốc gia trên thế giới đều đã thực hiện. Và điều kiện để VAMC hoạt động là Chính phủ phải tạo được niềm tin cho công chúng.

Để tạo lập niềm tin, điều trước tiên là làm rõ con số nợ xấu thực sự. “Đó cũng là yếu tố đầu vào quan trọng trong tiến trình xử lý nợ xấu”, ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách công Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhận xét.
Nguồn: Nhipcaudautu / VnEconomy
, , ,

“Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trong nhập hàng Việt Nam”

Ngân hàng HSBC nói đến năm 2030, Trung Quốc sẽ thay thế Mỹ ở vị trí khách hàng lớn nhất của Việt Nam...

Theo HSBC, tuy Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng vào năm 2030 Mỹ và Nhật Bản vẫn sẽ vẫn nằm trong danh sách ba đối tác xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam.

Báo cáo mới nhất của ngân hàng HSBC về kết nối giao thương, được công bố hôm 28/3, đã đưa ra những nhận định đáng chú ý về thương mại Việt Nam, đặc biệt là dự báo Trung Quốc sẽ thay thế Mỹ ở vị trí khách hàng lớn nhất.

Báo cáo nhận định rằng năm vừa qua, các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam đã vượt qua suy thoái kinh tế toàn cầu "một cách xuất sắc" khi kuất khẩu hàng hóa tăng khoảng 20% trong năm 2012.

Trái ngược với hầu hết các nước láng giềng ở châu Á mới nổi, năm ngoái Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng xuất khẩu hai con số, bất chấp tình hình suy thoái toàn cầu. Giá trị xuất khẩu tính theo USD tăng khoảng 20% trong năm 2012 nhờ vào ngành viễn thông, nhựa, quần áo và may mặc.

"Tốc độ tăng trưởng GDP trên mức 5%/năm sẽ được duy trì bền vững trong trung hạn khi thị trường nội địa đang khởi sắc thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI; khi du lịch và xuất khẩu nông sản hỗ trợ cải thiện ngành công nghiệp và và khi những nhà máy năng lượng mới chấm dứt tình trạng thiếu hụt năng lượng tồn tại lâu năm. Sự mở rộng các các mặt hàng xuất khẩu công nghiệp, lượng dự trữ cao hơn và một thị trường nội địa lớn hơn cũng có thể làm giảm tình trạng biến động của tăng trưởng", báo cáo viết.

Theo HSBC, đáng chú ý là đến năm 2030, Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Xuất khẩu nội vùng (trừ Nhật Bản) đến năm 2020 được dự báo sẽ tăng trưởng hơn 15%/năm. Ngoài Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia sẽ trở thành những đối tác xuất khẩu ngày càng lớn của Việt Nam.

Về trung hạn, kế hoạch mở rộng Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Agreement) hướng tới thuế suất bằng 0 đối với tất cả hàng hóa vào năm 2015 cũng sẽ là một nhân tố khác hỗ trợ thúc đẩy giao thương giữa Việt Nam với các nền kinh tế khác trong khu vực.

Tuy nhiên, Mỹ và Nhật Bản sẽ vẫn là nguồn nhu cầu quan trọng đối với Việt Nam và sẽ vẫn nằm trong số ba thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam vào năm 2030. Kể từ khi ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ năm 2000 và gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) năm 2007, Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp lớn thứ hai, chỉ sau Trung Quốc, cho thị trường Mỹ về các mặt hàng quần áo và giày dép.

Cùng với tăng trưởng xuất khẩu mạnh, Việt Nam cũng sẽ ngày càng trở thành một nước nhập khẩu lớn; vừa nhập tư liệu sản xuất để đáp ứng nhu cầu hạ tầng cơ sở lớn của mình vừa nhập khẩu hàng tiêu dùng để đáp ứng một thị trường tiêu dùng đang tăng trưởng nhanh. Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Bangladesh sẽ là các đối tác nhập khẩu hàng hoá tăng trưởng nhanh nhất trong thập niên này cho đến 2030.

Trong vài năm gần đây, Việt Nam đã có thể tăng trưởng lĩnh vực dệt may nhanh chóng nhờ vào mức lương cạnh tranh. Thực tế, ngành quần áo và may mặc sẽ góp phần khoảng 1/5 tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam từ 2013 đến 2015. Nhưng Việt Nam cũng đang phát triển mạnh lĩnh vực viễn thông và ngành này sẽ đóng góp khoảng 10% tăng trưởng xuất khẩu trong 20 năm tới.

Tuy Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng vào năm 2030 Mỹ và Nhật Bản vẫn sẽ vẫn nằm trong danh sách ba đối tác xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, phản ánh sự đa dạng chủng loại các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.

"Việt Nam có vị trí thuận lợi để tận dụng được lợi thế không thể tranh cãi của khu vực châu Á đang nổi: khu vực giao thương năng động nhất trên thế giới. Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Bangladesh và Hàn Quốc sẽ nằm trong số mười thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Việt Nam trong hai mươi năm tới", báo cáo viết.

Trong khi đó, tăng trưởng xuất khẩu sang các nước châu Âu (trừ Nga) dự kiến sẽ đạt mức trung bình gần 10%/năm từ năm 2013 đến 2020. Tăng trưởng xuất khẩu đến Úc, New Zealand và châu Đại Dương sẽ hồi phục mạnh trong dài hạn và sẽ đạt mức trung bình 10%/năm từ năm 2016 đến 2020. Xuất khẩu sang châu Mỹ Latin sẽ tăng trưởng trung bình hơn 10% từ năm 2013 đến 2020 và Brazil sẽ là đối tác xuất khẩu năng động nhất của Việt Nam trong khu vực này.

Vùng châu Phi cận Sahara cung cấp một thị trường nội địa lớn với nhu cầu nhập khẩu lớn về tư liệu sản xuấtcho sự phát triển cơ sở hạ tầng và về các sản phẩm tiêu dùng cho thị trường trong nước. Châu Phi cận Sahara cung cấp các triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ trong 20 năm tới, mặc dù từ một nền tảng tương đối thấp. Tăng trưởng xuất khẩu sang khu vực này dự báo sẽ phục hồi từ mức 8,8%/năm từ năm 2013-2015 đến trung bình hơn 12%/năm từ năm 2016-2020.
Nguồn: VnEconomy

26 tháng 3, 2013

, ,

Con đường làm giàu của các bố già Nga

Một bài báo được đăng tải trên tờ New York Times từ năm 1996 miêu tả khá rõ quá trình này.

Thời gian gần đây, những ông trùm người Nga trở thành tâm điểm của dư luận. Đầu tiên, họ nổi tiếng bởi số tiền khổng lồ được gửi tại hệ thống ngân hàng đảo Síp vốn đang chao đảo trong cơn khủng hoảng. Cuối tuần vừa qua, người ta lại chú ý đến cái chết bí ẩn của tỷ phú Nga Boris Berezovsky - một trong những nhân vật đối lập lưu vong lâu nay chỉ trích Tổng thống Vladimir Putin cay nghiệt nhất.

Cái chết của Berezovksy sẽ kéo theo nhiều câu hỏi dành cho điện Kremlin cũng như cho tầng lớp các ông trùm siêu giàu của nước Nga. Từ lâu nay, đây vẫn là nhóm được cho là quyền lực nhất ở nước Nga, thâu tóm toàn bộ nền kinh tế. Vậy thì, họ đã làm cách này để có được vị trí này?


Các bố già Nga (oligarchs) chính là sản phẩm của quá trình tư nhân hóa các công ty nhà nước sau khi Liên minh Xô Viết sụp đổ. Khi đó, nền kinh tế Nga bị xáo trộn và chính phủ muốn phân phối lại các công ty trực thuộc nhà nước vốn không được quản lý chặt chẽ. Động thái này được thực hiện ở tất cả các ngành.


Năm 1994, các lãnh đạo tại ngân hàng Oneksim đưa ra kế hoạch giúp chính phủ của cựu Tổng thống Boris Yeltsin huy động tiền mặt trong khi phân phối lại các công ty.

Kế hoạch này được gọi là “nợ đổi lấy cổ phần”. Các ngân hàng Nga sẽ cho chính phủ vay tiền và đổi lại họ tạm thời được nắm cổ phần tại các công ty nhà nước. Nếu như chính phủ không trả được nợ và vỡ nợ, các ngân hàng được nắm cổ phiếu vĩnh viễn.

Cuối cùng thì chính phủ Nga đã vỡ nợ và những người có đủ vốn để chớp lấy thời cơ nhanh chóng trở nên giàu có. Vladimir Potanin – cựu Chủ tịch của ngân hàng Oneksim và là người giàu thứ 4 ở Nga – chính là ví dụ điển hình.

Một bài báo được đăng tải trên tờ New York Times từ năm 1996 miêu tả khá rõ quá trình này:


Khi các phiên đấu giá bắt đầu vào mùa thu năm 1995, rõ ràng là mọi thứ đã được sắp đặt từ trước. Các nhà đầu tư nước ngoài không được tham gia đấu giá các tài sản hấp dẫn nhất. Chính các ngân hàng được chính phủ giao nhiệm vụ tổ chức các cuộc đấu giá trở thành người chiến thắng và kết quả đấu giá chỉ cao hơn chút ít so với mức giá tối thiểu.


Ví dụ, ngân hàng Oneksim đã tổ chức đấu giá 38% cổ phần của Norilsk Nickel, công ty sản xuất bạch kim và 1/4 lượng nickel của toàn thế giới. Oneksim cũng chính là người chiến thắng với mức giá 171 triệu USD, chỉ cao hơn 10.000 USD so với mức giá tối thiểu và thậm chí bằng một nửa so với mức giá mà đối thủ cạnh tranh là ngân hàng Rossiisky Credit định bỏ ra. Người phát ngôn của Oneksim tuyên bố loại Rossiisky Credit bởi họ nộp hồ sơ muộn và muốn bảo lãnh bằng trái phiếu kho bạc cũng như tiền mặt. Rossiisky Bank còn dọa sẽ đem vụ việc này ra tòa.

Cổ phần của Lukoil and Yukos - một trong những tập đoàn dầu mỏ lớn nhất nước Nga – bị bán tháo ở mức giá mà các chuyên gia phân tích phương Tây cho là quá thấp so với giá trị thực. Khi lượng đặt mua giảm mạnh, Chính phủ thu về 1 tỷ USD, bằng một nửa so với dự đoán.


Khi chương trình “nợ đổi lấy cổ phần” bắt đầu, tỷ phú đã quá cố Boris Berezovsky vốn đã là người rất giàu có. Ông kinh doanh xe hơi khi Liên minh Xô Viết sụp đổ và sau đó thậm chí việc kinh doanh của ông còn trở nên phát đạt hơn.

Năm 1994, Berezovsky gặp Roman Abramovic (tỷ phú giàu thứ 7 ở Nga) trên 1 chiếc thuyền buồm của 1 người bạn ở Caribbean. Hai người sử dụng chương trình này để thâu tóm công ty dầu mỏ Sibneft. Berezovsky sử dụng tầm ảnh hưởng để đảm bảo chắc chắn công ty của Abramovic sẽ giành chiến thắng trong cuộc đấu giá.

Không có bất cứ giấy tờ nào ghi lại thỏa thuận này. Cũng chính vì vụ này mà năm ngoái Berezovsky đã kiện Abramovic ra tòa đòi bồi thường 5 tỷ USD. Ông buộc tội Abramovic đã hăm dọa và buộc ông phải bán cổ phần tại Sibneft ở mức giá thấp nhất.

Với cái chết của Berezovsky, một số người cho rằng tỷ phú này đã tự tử vì lo sợ mất đi toàn bộ khối tài sản có giá trị vào khoảng 3 tỷ USD.

Trong khi đó, theo chỉ số Bloomberg Billionaire Index, tài sản của Roman Abramovic có giá trị lên tới 13,4 tỷ USD. Ông chủ Mikhail Prokhoro của Brooklyn Nets có 13,1 tỷ USD và bố già giàu nhất - Alisher Usmanov – có tới 21,1 tỷ USD.


,

97 tỷ USD vốn FDI cho Việt Nam sau 25 năm

Con số này bằng khoảng 47% lượng vốn mà các nhà đầu tư cam kết mang tới. Sau 25 năm mở cửa thu hút, dòng vốn ngoại được cơ quan quản lý đánh giá đã thể hiện vai trò tích cực nhưng chưa được như kỳ vọng.

Tháng 12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài ra đời đã khai nguồn cho dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) - một đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế suốt hơn 2 thập kỷ tiếp theo. Tổng kết trước thềm Hội nghị 25 năm đầu tư nước ngoài ngày 27/3, Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư - Bùi Quang Vinh nhận định dòng vốn cũng như khu vực FDI đã thể hiện "vai trò tích cực" trong thành tựu tăng trưởng, phát triển của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu, nộp ngân sách và tạo việc làm. Tuy vậy, đại diện cơ quan quản lý cũng thừa nhận việc thu hút FDI chưa đạt kỳ vọng.

Đến tháng 8 năm 2012, cả nước có gần 14.100 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt khoảng 207 tỷ USD. Tuy vậy, lượng giải ngân thực tế mới đạt khoảng 97 tỷ USD, tương đương khoảng 47% số cam kết. FDI tăng từ 20,7 tỷ USD trong giai đoạn 1991 - 2000 lên gần 70 tỷ USD trong những năm 2001 - 2011, nhưng tỷ trọng so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại giảm từ hơn 24,3% xuống còn 22,75% trong cùng giai đoạn.

Giai đoạn
(năm)
Vốn FDI thực hiện
(tỷ đồng)
% vốn FDI thực hiện
so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội
1991 - 200020,6724,32
2001 - 201169,4722,75

Ở khía cạnh tích cực, cơ quan quản lý nhận định các doanh nghiệp FDI có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với mức tăng GDP chung cả nước. Đây cũng là khu vực đóng góp lớn vào xuất khẩu khi nâng tỷ trọng từ 45,2% (2001) lên tới 64% (2012) tổng giá trị hàng hóa xuất cảng của cả nước. Các doanh nghiệp cũng góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo và mở rộng thị trường.

Đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách cũng tăng từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 - 2010). Năm 2012, nộp ngân sách của các doanh nghiệp(không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm gần 12% tổng thu.
Số liệu: Bộ Kế hoạch & Đầu tư
Với gần 60% vốn tập trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, khu vực FDI tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng... Đồng thời, góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu...
Hiện, khu vực FDI tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3 - 4 triệu lao động gián tiếp. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, khu vực này có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về công nghệ, khu vực FDI sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy và dệt may, giày dép, trong đó viễn thông, dầu khí được đánh giá có hiệu quả nhất.

Tuy nhiên, qua 25 năm, ngoài những mặt đạt được, khu vực kinh tế FDI cũng còn nhiều hạn chế, với hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; có quá ít dự án về cơ sở hạ tầng; tỷ trọng dự án trong nông - lâm - ngư nghiệp rất thấp và có xu hướng giảm dần trong khi đây là những ngành Việt Nam có thế mạnh. Trong dịch vụ, các dự án bất động sản quy mô lớn còn cao song nhiều trong số dự án này chậm triển khai, gây lãng phí về đất đai, vay vốn trong nước.

Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, vốn FDI hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm gây mất cân đối vùng miền, không đạt được mục tiêu hướng đầu tư nước ngoài vào địa bàn khó khăn. Các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao không tạo ra lợi thế khác biệt cho từng địa phương và vùng lãnh thổ.

Gần 60% vốn FDI tập trung trong ngành công nghiệp và xây dựng. Ảnh:CP
Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ yếu từ châu Á, nhà đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ cao. Hiện mới chỉ thu hút được trên 100 trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới. Tỷ lệ vốn thực hiện thấp so với vốn đăng ký, chỉ khoảng 47,2%.

Bên cạnh đó, trên 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc hậu. Theo đánh giá của Bộ, chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều ngang - giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ. Công nghệ thấp dẫn đến các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu thực hiện việc gia công. Một số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng những khâu sử dụng công nghệ cao lại không thực hiện ở Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp Việt Nam tạo ra gia trị gia tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.

Đánh giá về tạo công ăn, việc làm, theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tỷ lệ việc làm mới do khu vực FDI tạo ra không tương xứng (chỉ chiếm 3,4% trong tổng số lao động có việc làm năm 2011). Thu nhập bình quân theo tháng của người lao động ở khu vực doanh nghiệp FDI chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nhu cầu về nhà ở, đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc mà chưa đáp ứng được.

Ngoài việc có hiện tượng chèn lấn doanh nghiệp trong nước, một số doanh nghiệp FDI có biểu hiện áp dụng các thủ thuật chuyển giá tinh vi như nâng khống giá trị góp vốn (bằng máy móc, thiết bị, bản quyền…), giá trị mua bán nguyên vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ, phí quản lý, tiền bản quyền, chi phí bảo lãnh, cho vay, trả lương, đào tạo, quảng cáo, nhà thầu, chuyển nhượng vốn… tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏi liên doanh, doanh nghiệp trở thành 100% vốn nước ngoài.

Nguồn: VnExpress
,

Tăng trưởng GDP quý 1/2013 ước đạt 4,89%

Mặc dù đạt tốc độ tăng cao hơn quý 1/2012, nhưng GDP quý 1 năm nay vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011 và 2010...

Tăng trưởng GDP quý 1 qua các năm - Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tăng trưởng GDP quý 1/2013 ước đạt 4,89%, cao hơn mức tăng 4,64% của quý 1/2012. 

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 2,24%; khu vực công nghiệp tăng 4,95%; xây dựng tăng 4,79%; dịch vụ tăng 5,65%.

Mặc dù đạt tốc độ tăng cao hơn cùng kỳ năm ngoái, nhưng GDP quý 1 năm nay vẫn thấp hơn so với tăng trưởng GDP quý 1/2011 (tăng 5,53%) và quý 1/2010 (tăng 5,84%).

Cũng theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 3/2013, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 31,9% so với tháng trước và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2012.

Tính chung cả quý 1/2013, IIP tăng 4,9% so với cùng kỳ, trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 2,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,4%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện tăng 8,5%;... 

Nguồn: VnEconomy
,

Canh bạc đầu tư ra nước ngoài

Các doanh nghiệp xem đầu tư ở nước ngoài như "đào ao ra biển" để săn cơ hội lớn. Còn giới chuyên gia lo ngại nếu quản không chặt, mang hàng tỷ USD đến xứ người chỉ là canh bạc tất tay khi trong nước còn nhiều khó khăn.

Xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đang tăng mạnh những năm gần đây. Theo Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 20/12/2012 có 712 dự án của doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 12,4 tỷ USD. Dự kiến năm 2013, vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài đạt khoảng 1-1,5 tỷ USD; vốn thực hiện 900 triệu USD đến 1 tỷ USD.

Đến nay, Việt Nam đã đầu tư vào 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong năm 2012, có 75 dự án đầu tư mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 1,3 tỷ USD tại 28 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trước làn sóng xuất ngoại đầu tư của các đại gia Việt, cộng thêm cơ chế mở của Pháp lệnh Ngoại hối mới ban hành, một lãnh đạo ngân hàng quan ngại dòng tiền ra nước ngoài làm ăn "đi dễ nhưng khó về".

Trong báo cáo 6 năm thực hiện Pháp lệnh Ngoại hối trình Quốc hội năm ngoái, Ngân hàng Nhà nước cũng tỏ ra quan ngại. Theo cơ quan này, trong điều kiện dự trữ ngoại hối quốc gia chưa lớn, cán cân thương mại thường xuyên thâm hụt, nguồn cung về ngoại tệ chưa được đảm bảo, áp lực lên tỷ giá lớn, việc chuyển vốn ngoại tệ đầu tư ra nước ngoài càng làm cho cung cầu ngoại tệ mất cân đối, chưa kể những rủi ro kinh tế khi đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp rất lớn.

"Cơ quan quản lý có cơ sở để lo lắng khi nhiều dòng vốn lớn từ trong nước dịch chuyển ra nước ngoài đầu tư trong thời điểm hiện nay", Trưởng khoa Tài chính ngân hàng Đại học Mở TP HCM, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuận phân tích.

Myanmar là thị trường mới nổi ở châu Á đang thu hút nhiều nhà đầu tư Việt Nam. Ảnh: Vũ Lê
Ông Thuận giải thích, trên thực tế có nhiều dòng vốn từ nước ngoài đổ về Việt Nam không phải để đầu tư mà chỉ để ăn lãi tiết kiệm bằng hình thức cho người trong nước đứng tên. Ngược lại, cũng không loại trừ có dòng ngoại tệ từ trong nước âm thầm chuyển ra nước ngoài. Ngay cả nhiều doanh nghiệp FDI đầu tư tại Việt Nam cũng từng bị đánh dấu hỏi về việc lỗ giả lời thật và có hiện tượng chuyển giá. Điều này cho thấy quản lý đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế và là thách thức đối với cơ quan chức năng tại Việt Nam.

Theo ông Thuận, mặc dù các nước sở tại cũng có biện pháp quản lý các dự án nước ngoài nhưng để kiểm soát được lại là câu chuyện khôn cùng và khó lường. Nỗi lo chảy máu dòng vốn là trăn trở tất yếu, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam chưa ổn định. Những khó khăn trong thời gian qua phần nào đã khiến cho không ít dòng vốn đổ ra nước ngoài bằng con đường không chính thức. Nghịch lý đang diễn ra là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước lại đang đói vốn.

Ủng hộ doanh nghiệp Việt Nam đem chuông đi đánh xứ người, ông Thuận cho rằng bỏ tiền vào đâu là quyền của doanh nghiệp và không thể cấm đoán nếu nhu cầu này đang tồn tại và tăng cao. "Vấn đề nằm ở cách quản lý. Nếu doanh nghiệp đầu tư thật và chuyển tiền ngược về nước thì không có gì phải bàn cãi. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp đầu tư sang một nước thứ nhất rồi mua bán sang nước thứ hai, thứ ba trong quá trình này khai báo lỗ lãi rất khó kiểm soát", ông nói.

Vì vậy, theo ông Thuận, Ngân hàng Nhà nước nên siết chặt việc kiểm tra, đánh giá, thẩm định kỹ các dự án ở nước ngoài và doanh nghiệp trong quá trình cấp phép đầu tư. Theo đó, cần rà soát doanh nghiệp đã hoạt động như thế nào tại thị trường trong nước, lỗ lãi, hoạt động ngành nghề thâm niên tối thiểu 5-10 năm, tại sao lại đầu tư ra nước ngoài. Thị trường trong nước đã khai thác hết chưa, khả năng tài chính như thế nào... Những ràng buộc này nhằm đảm bảo việc đầu tư là đúng thực chất và khả thi, tránh các hệ lụy về sau.

Các doanh nghiệp Việt Nam lại bảo vệ quan điểm phải vươn ra sân chơi quốc tế để tìm cơ hội "hóa rồng". Trao đổi với VnExpress.net, Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL), Đoàn Nguyên Đức nói: “Nếu năm 2007 tôi không mạnh tay đầu tư sang Lào, sau đó là Campuchia hay mới đây là Myanmar thì bây giờ chỉ còn biết ngồi bó gối vì kinh tế trong nước đang vô cùng khó khăn, đặc biệt bất động sản đóng băng triền miên”.

Trung tâm nhiệt điện của HAGL đầu tư tại Lào. Ảnh: An Huy
Người giàu thứ hai sàn chứng khoán Việt Nam cho hay, hiện nay sở dĩ các quỹ đầu tư quốc tế vẫn mạnh tay đổ tiền vào HAGL vì bị hấp dẫn bởi các dự án cao su, mía đường và bất động sản tập đoàn đang đầu tư ở nước ngoài. Quan điểm của ông Đức, khi sân nhà đã chật chội so với tầm vóc của doanh nghiệp, không thể đá đấm gì được nữa thì các tập đoàn phải vươn mình ra khu vực và thế giới để chinh phục, tìm kiếm cơ hội mới.

Theo ông Đức, các ý kiến lo ngại những dự án đầu tư ra nước ngoài làm chảy máu ngoại tệ chỉ là cái nhìn cục bộ. Bởi lẽ Ngân hàng Nhà nước và Bộ Kế hoạch đầu tư quản việc này rất chặt từ khâu cấp phép đến thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài và thậm chí có quyền thanh kiểm tra bất cứ lúc nào. Nguyên tắc đầu tư ra nước ngoài là tất cả các báo cáo tài chính đều quy về công ty mẹ tại Việt Nam.

Chủ tịch HAGL nhận xét, đầu tư ra nước ngoài từ lâu đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, được xem như vấn đề sống còn của nhiều tập đoàn quốc tế hùng mạnh tuy nhiên chỉ mới manh nha tại Việt Nam 5-7 năm trở lại đây. "Nếu đến lúc này Việt Nam vẫn còn nghi ngại khi cấp phép các dự án đầu tư ra nước ngoài thì cả quốc gia và doanh nghiệp sẽ phải chịu thiệt thòi rất lớn", ông Đức nhận định.

Một đại diện của Viettel nhấn mạnh: “Đầu tư ra nước ngoài nhằm đảm bảo chiến lược phát triển lâu dài của tập đoàn. Sân chơi lớn tạo ra lợi thế về quy mô. Viettel sẽ có nhiều khách hàng hơn, chi phí tối ưu hơn, có thị trường tiêu thụ nhiều sản phẩm mà tập đoàn sản xuất".

Theo vị này, ra biển lớn doanhh nghiệp còn rèn luyện được bộ máy, con người thông qua việc cạnh tranh với các đối thủ lớn trên thế giới như Vodafone, Orange, Telefonica. Hơn nữa, đầu tư ra nước ngoài làm tăng giá trị thương hiệu của Viettel. Ngay khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài, giá trị thương hiệu Viettel đã lập tức được gia tăng.

Phụ trách mảng đầu tư nước ngoài C.T Group, ông Nguyễn Văn Hoàng ví von đầu tư ra nước ngoài như đào ao ra biển lớn. Nếu lo ngại nước trong ao chảy hết ra biển rồi bế quan tỏa cảng thì không thể nào có ngày nước từ biển ồ ạt đổ vào ao. Thị trường quốc tế như đại dương to lớn không thể tưởng tượng nổi và có sức hấp dẫn mạnh đến độ các nhà đầu tư không thể ngoảnh mặt chối từ. Đó là lý do khiến doanh nghiệp đua nhau tìm cơ hội ở nước ngoài.

Theo ông Hoàng, Việt Nam có nhiều sản phẩm tốt nhưng còn kém ở khâu marketing cho sản phẩm. Ví dụ, gỗ và ngành may mặc tuy có nhiều thế mạnh nhưng phần lớn chỉ gia công cho nước ngoài hoặc cạnh tranh ở phân khúc thấp và thu về lợi nhuận khiêm tốn. Vì vậy vươn ra thị trường bên ngoài là cơ hội để Việt Nam học hỏi bạn bè thế giới và phát huy thế mạnh.

Bình luận về việc cơ quan chức năng lo ngại dòng vốn chảy ra nước ngoài đi dễ nhưng khó về, ông Hoàng nhận xét, việc thất thoát ngoại tệ chỉ là tầm nhìn ngắn hạn và có thể khắc phục được bằng biện pháp quản lý. Nếu xét chiến lược lâu dài, đầu tư ra nước ngoài đúng hướng sẽ thu về nguồn lợi rất lớn cho quốc gia.

Khác biệt về văn hóa đôi khi có thể khiến suất đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt trở thành canh bạc. Ông Trần Văn Mười, Chủ tịch Tập đoàn Quốc tế Năm sao chia sẻ, công ty đưa vào hoạt động nhà máy phân bón 80 triệu USD tại Campuchia nhưng nông dân nước này mỗi năm chỉ trồng một vụ lúa và lại không dùng phân bón vì cho rằng hóa chất sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe. Vì vậy, Tập đoàn Năm sao kết hợp với các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành của hai nước nghiên cứu thổ nhưỡng và hướng dẫn người dân sử dụng phân bón. "Khi giúp tăng vụ, tăng thu nhập, lúc đó chúng tôi mới tạo được tín nhiệm và tạo lòng tin để mọi người sử dụng sản phẩm", ông nói.

Tiến sĩ Klaus Philipp Seif, Giám đốc chuyên trách các vấn đề về pháp luật, văn hóa kinh doanh của Tập đoàn BASF (Đức) cho rằng, một doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài thường bị vướng về mặt văn hóa.

Bởi theo ông, những khác biệt về văn hóa thường tạo ra hệ lụy tiêu cực trong kinh doanh như ngăn cản giao dịch; hiểu lầm hoặc không rõ trong vận hành, tác nghiệp; tạo ra những kỳ vọng khác nhau về kết quả kinh doanh... Do đó, khi muốn đầu tư vào một nước nào đó, doanh nghiệp phải nắm thật rõ về văn hóa nước đó.

Luật sư Pasdraig Johannes Seif, Cố vấn pháp luật tại nhiều công ty lớn của Sigapore lưu ý, các doanh nghiệp Việt Nam muốn đầu tư vào một nước nào đó phải tìm hiểu rõ về pháp luật nước sở tại. Chẳng hạn, ở Singapore, muốn thành lập một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài phải có địa chỉ đăng ký, có một thành viên trong ban lãnh đạo là người Singapore, còn vốn pháp định chỉ cần 1 USD là có thể hợp lệ.

Nguồn: VnExpress


,

Samsung khởi công tổ hợp dự án 2 tỷ USD tại Việt Nam

Dự án của Samsung tại Thái Nguyên, cũng như ở Bắc Ninh, đã “đụng trần ưu đãi” của Việt Nam...
Lễ khởi công xây dựng tổ hợp công nghệ cao Samsung tại khu công nghiệp Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên, sáng 25/3 - Ảnh: Anh Minh.
Cho đến cuối năm ngoái, trả lời phỏng vấn báo Korean Times, Chủ tịch Tập đoàn Samsung, ông Lee Kun Hee, vẫn cho rằng “kế hoạch Thái Nguyên” vẫn chỉ mới là ý tưởng.

Nhưng trước sự nhiệt tình của phía Việt Nam, đặc biệt là của UBND tỉnh Thái Nguyên, cũng như từ những thành công nhanh chóng của dự án Samsung tại Bắc Ninh, ban lãnh đạo Samsung đã ra quyết định đầu tư.

Sáng 25/3, tại lễ khởi công xây dựng tổ hợp công nghệ cao Samsung tại khu công nghiệp Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên, Phó tổng giám đốc Công ty Điện tử Samsung Vina Nguyễn Văn Đạo, một trong những người tham gia quá trình chuẩn bị cho cả dự án Bắc Ninh lẫn Thái Nguyên, nói không chỉ nhanh chóng ra quyết định đầu tư, việc khởi công cũng đã được tiến hành nhanh một cách bất ngờ.

Không chỉ là một nhà máy đơn thuần, dự án của Samsung trong tương lai sẽ là một tổ hợp. Dự án được khởi công hôm nay là nhà máy sản xuất điện thoại di động và máy ảnh kỹ thuật số với tổng công suất trên 100 triệu sản phẩm/năm và có vốn đầu tư 2 tỷ USD. Nhưng ít nhất, một dự án nhà máy sản xuất thiết bị vi xử lý và bộ tích hợp với vốn đăng ký đầu tư 1,2 tỷ USD cũng dự kiến sẽ được xây dựng.

Cho dù dự án thứ hai này đang trong quá trình đàm phán và chưa được đại diện Samsung chính thức đề cập, song trong các bài phát biểu của lãnh đạo Chính phủ và tỉnh Thái Nguyên sáng 25/3, con số 3,2 tỷ USD cho cả hai dự án đã được đề cập.

Công việc kinh doanh của Samsung đang tăng trưởng tốt trên quy mô toàn cầu. Với vị thế hàng đầu về điện thoại di động, nguồn cung sản phẩm đang trở nên thiếu, và không có cách nào khác Samsung phải nhanh chóng gia tăng quy mô sản xuất.

Ông Đạo nói dự án của Samsung tại Thái Nguyên, cũng như ở Bắc Ninh, đã “đụng trần ưu đãi” của Việt Nam. Nhưng nếu chỉ nhìn vào ưu đãi thì không thấy hết được những lợi ích mà Samsung đã mang lại.

Cho đến nay, dự án của Samsung tại Bắc Ninh đã thu hút 80 công ty vệ tinh so với kế hoạch ban đầu là 200. 80 công ty này đã tạo việc làm cho 80 ngàn lao động khác. “Dự án Thái Nguyên sẽ thu hút thêm nhiều hơn thế. Và quan trọng hơn, công nghiệp phụ trợ sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp khác trong nước cũng phát triển”, ông Đạo nói.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong diễn văn đọc tại lễ khởi công dự án của Samsung tại Thái Nguyên sáng nay, nói ông đặc biệt ấn tượng với tốc độ tăng trưởng của Samsung Bắc Ninh.

“Năm ngoái Samsung xuất khẩu 12,6 tỷ USD. Ba tháng đầu năm nay, Samsung xuất khẩu 5,2 tỷ USD, bằng 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đấy là những con số hết sức ý nghĩa, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của Việt Nam, cũng như thể hiện mối quan hệ hợp tác ngày càng bền chặt giữa Việt Nam và Hàn Quốc”, Thủ tướng nói.

Cũng khó diễn tả hết sự vui mừng của những lãnh đạo của Thái Nguyên với dự án này. Với quy mô 2 tỷ USD, đây là dự án có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất Thái Nguyên tính đến thời điểm hiện nay, và đây cũng là thành quả ngọt cho quá trình nỗ lực liên tục nhằm cải thiện môi trường đầu tư trong thời gian qua.

Tân Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, ông Nguyễn Đình Phách, nói dự án của Samsung là một điểm nhấn quan trọng trong tiến trình xây dựng Thái Nguyên trở thành một tỉnh công nghiệp mạnh ở phía Bắc. Thời gian qua, Thái Nguyên đã thu hút được 600 dự án lớn nhỏ với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 200 ngàn tỷ đồng. Tuy nhiên, dự án của Samsung sẽ là một bước ngoặt quan trọng.

Thái Nguyên đã quyết liệt chuẩn bị cho ngày khởi công này. Trong tổng số 100 ha đất dự kiến dành cho dự án của Samsung, trước mắt sẽ mới chỉ sử dụng 50 ha. Để có mặt bằng cho dự án, hơn 50 hộ dân đã được “giải phóng”, tạm thời đi “ở trọ”, như thừa nhận của người dân nơi đây trong khi chờ khu tái định cư tập trung.

Mức đền bù mà họ nhận được, dự kiến là 350 nghìn đồng/m2 đối với đất thổ cư, 210 nghìn đồng/m2 đối với đất ruộng và 190 nghìn đồng/m2 đối với đất vườn đồi, một người dân vừa được “giải phóng” cho biết.

Chủ đầu tư khu công nghiệp Yên Bình, nơi Samsung hạ cánh, có lẽ là người hạnh phúc nhất Thái Nguyên trong buổi sáng 25/3. Với lợi thế tự nhiên là nằm ngay mặt đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai đang trong giai đoạn hoàn thành, khu công nghiệp Yên Bình rõ ràng đang trở thành địa chỉ đỏ cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước sau sự kiện Samsung, mặc dù theo quan sát của VnEconomy, nhà đầu tư này chưa thực sự bỏ ra nguồn vốn đáng kể nào cho việc xây dựng hạ tầng. 


Nguồn: VnEconomy
,

Lãnh đạo Bình Định nói về dự án lọc dầu 28 tỷ USD


“Nếu dự án này được triển khai đúng tiến độ, sẽ là bước nhảy vọt về kinh tế của Bình Định”...
Một nhà máy lọc dầu của Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT LLC).
Trả lời tại cuộc giao lưu trực tuyến về xúc tiến đầu tư vào khu vực duyên hải miền Trung sáng 24/3, ông Hồ Quốc Dũng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã cung cấp thêm thông tin về dự án lọc dầu khổng lồ tại tỉnh này, vốn gây xôn xao dư luận thời gian qua.

Tại đây, ông Hồ Quốc Dũng nói dự án với vốn đầu tư ước tính trên 28 tỷ USD là “một trong 6 tổ hợp lọc hoá dầu lớn nhất, hiện đại nhất thế giới”.

Lý do nhà đầu tư là Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) chọn khu kinh tế Nhơn Hội tại Bình Định để triển khai dự án này, theo ông Dũng, là do khu kinh tế Nhơn Hội được đầu tư hạ tầng khá đồng bộ, có cảng nước sâu, lại nằm giữa hai đầu đất nước, nên có thể cung cấp sản phẩm thuận lợi cho các nước trong khu vực.

“Dự án này đã xúc tiến hai năm nay, ban đầu nhà đầu tư dự kiến đầu tư dự án quy mô nhỏ như Dung Quất, Vũng Rô, Nghi Sơn… nhưng nếu với quy mô nhỏ thì thu hồi vốn khó khăn, nên nhà đầu tư đã quyết định nâng mức đầu tư, lập báo cáo tiền khả thi rất công phu, để trình Chính phủ xem xét. Nếu dự án này được triển khai đúng tiến độ, sẽ là bước nhảy vọt về kinh tế của Bình Định”, ông Dũng nói.

Trước đó, theo nguồn tin từ Dow Jones Newswires, dự án lọc dầu đang được Tập đoàn Dầu khí Thái Lan xem xét này có công suất 660.000 thùng mỗi ngày, đưa nhà máy vào hàng một trong những nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới. Theo dự kiến, chi phí xây dựng dự án có thể lên tới 28,7 tỷ USD - bản tin cho biết. Trao đổi với phóng viên Dow Jones Newswires, ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cho biết, dự án có thể khởi công vào năm 2016 và hoạt động lọc dầu sẽ chính thức diễn ra vào năm 2019.

Một bản tin đăng trên cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Bình Định ngày 22/11/2012 cũng cho biết, cùng ngày, tại thành phố Quy Nhơn, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thiện, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hữu Lộc, cùng các lãnh đạo khác của tỉnh đã nghe ông Sukrit Surabotsopon - Phó tổng giám đốc PTT - giới thiệu báo cáo tiền khả thi dự án khu liên hợp lọc hóa dầu tại khu kinh tế Nhơn Hội.

Theo bản tin, “qua khảo sát, PTT nhận thấy khu kinh tế Nhơn Hội có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng một nhà máy lọc dầu có quy mô lớn, công nghệ cao, có công suất khoảng 660 ngàn thùng/ngày, tức là khoảng 36 triệu tấn/năm. Ước tính tổng vốn đầu tư của dự án là 28,7 tỷ USD, gồm vốn của PTT, của các đối tác Việt Nam và các đối tác khác”.

Cũng tại cuộc giao lưu trực tuyến sáng 24/3, Phó chủ tịch Dũng cũng cho biết tập đoàn Vingroup sẽ khởi công dự án khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Hải Giang tại tỉnh Bình Định vào ngày 30/3 tới. Dự án nằm tại xã bán đảo Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, có diện tích hơn 656 ha, tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 3.400 tỷ đồng.

Khu du lịch Hải Giang được chia làm 4 phân khu chức năng chính: khu sân golf và các cụm biệt thự cảnh quan nghỉ dưỡng, nhà điều hành trung tâm; khu các công trình văn hóa và khách sạn, căn hộ trung tâm bao gồm khu công viên quảng trường, công viên vui chơi giải trí, cụm khách sạn căn hộ, biệt thự, bungalow.

Tại đây cũng sẽ có khu resort cao cấp, gồm tổ hợp quần thể khách sạn 5 sao, khu biệt thự kèm các công trình dịch vụ thương mại, thể thao công cộng; khu marina và bungalow với bến du thuyền, các nhà hàng, trung tâm dịch vụ tắm biển, hệ thống nhà sàn.

Đây là dự án mà theo ông Dũng, được Bình Định xác định là dự án trọng điểm về du lịch, cùng với dự án khu du lịch Vĩnh Hội do một doanh nghiệp Mỹ đầu tư với số vốn 250 triệu USD trên diện tích 300 ha.

Khu du lịch Vĩnh Hội được cấp chứng nhận đầu tư từ năm 2007 với tổng vốn đăng ký giai đoạn 1 là 250 triệu USD, dự kiến triển khai trên diện tích 235 ha tại khu kinh tế Nhơn Hội (Bình Định). Theo kế hoạch ban đầu, dự án sẽ xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, bao gồm trung tâm hội nghị quốc tế, khách sạn, resort 5 sao, sân golf 18 lỗ, villa cao cấp…

Tháng 10/2011, chủ đầu tư đã ký hợp đồng với các công ty quản lý khách sạn Ritz-Carlton, JW Marriott và Outrigger để quản lý ba khu nghỉ dưỡng trong dự án. Tuy nhiên, đến nay, dự án này vẫn đang chậm tiến độ khá nhiều do vướng giải phóng mặt bằng.
Nguồn: VnEconomy
Thái Lan muốn rót gần 29 tỷ USD cho dự án lọc dầu tại Việt Nam

Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT LLC) đang cân nhắc xây dựng một nhà máy lọc dầu khổng lồ tại khu kinh tế Nhơn Hội thuộc tỉnh Bình Định của Việt Nam.Theo dự kiến, chi phí xây dựng dự án lọc dầu tại Bình Định này có thể lên tới 28,7 tỷ USD...

Hãng tin Dow Jones Newswires cho biết, dự án lọc dầu đang được phía Thái Lan xem xét này có công suất 660.000 thùng mỗi ngày, đưa nhà máy vào hàng một trong những nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới. Theo dự kiến, chi phí xây dựng dự án có thể lên tới 28,7 tỷ USD - bản tin cho biết. Theo đánh giá, khi hoàn thành, dự án  này sẽ đánh dấu một bước quan trọng trong việc mở rộng cơ sở công nghiệp của Việt Nam.

Một bản tin đăng trên cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Bình Định ngày 22/11 cũng cho biết, cùng ngày,  tại thành phố Quy Nhơn, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thiện, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hữu Lộc, cùng các lãnh đạo khác của tỉnh đã nghe ông Sukrit Surabotsopon - Phó tổng giám đốc PTT - giới thiệu báo cáo tiền khả thi dự án khu liên hợp lọc hóa dầu tại khu kinh tế Nhơn Hội.

Theo bản tin, “qua khảo sát, PTT nhận thấy khu kinh tế Nhơn Hội có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng một nhà máy lọc dầu có quy mô lớn, công nghệ cao, có công suất khoảng 660 ngàn thùng/ngày, tức là khoảng 36 triệu tấn/năm. Ước tính tổng vốn đầu tư của dự án là 28,7 tỷ USD, gồm vốn của PTT, của các đối tác Việt Nam và các đối tác khác”.

Theo bình luận của Dow Jones Newswires, một khoản đầu tư lớn như vậy sẽ tạo ra cú hích rất cần thiết cho kinh tế ở Việt Nam ở thời điểm hiện nay. Ngoài ra, ý tưởng thực hiện dự án trên còn xuất hiện trong bối cảnh hoạt động lọc hóa dầu đang phát triển mạnh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nơi nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm dầu tăng mạnh được dự báo sẽ là động lực tăng trưởng chính của hoạt động tiêu thụ dầu toàn cầu trong những năm tới.

Trao đổi với phóng viên của hãng tin, ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cho biết, dự án có thể khởi công vào năm 2016 và hoạt động lọc dầu sẽ chính thức diễn ra vào năm 2019. Ông Lộc cho hay, PTT đã thể hiện quyết tâm cao để đảm nhiệm dự án này, nên phía địa phương tin tưởng rằng PTT có thể thực hiện được dự án.

Trong ngày hôm nay, 23/11, ông Nattachat Charuchinda, Giám đốc điều hành phụ trách bộ phận hạ nguồn của PTT, tập đoàn dầu khí lớn nhất Thái Lan, cũng xác nhận việc tập đoàn này đã trình bày dự án tiền khả thi trước chính quyền tỉnh Bình Định. Ông này từ chối xác nhận mức chi phí tài chính của dự án, nhưng cho biết, dầu thô sử dụng cho nhà máy lọc dầu này sẽ là dầu từ Trung Đông.

Cũng theo ông Nattachat, dự án trên còn bao gồm một nhà máy hương liệu, với đầu ra có thể được xuất sang Trung Quốc. “Tiềm năng của Việt Nam là rất lớn”, ông Nattachat nói, nhấn mạnh việc Việt Nam hiện mới chỉ có một nhà máy lọc dầu.

Ông Lộc cho biết, PTT đã tiếp cận một số công ty Việt Nam để tìm kiếm vai trò đối tác trong dự án lọc dầu tại Bình Định. Trong số này có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), và Tổng công ty Xăng dầu Quân đội. Lãnh đạo của các công ty trên chưa có bình luận gì về thông tin này.

Nhà máy lọc dầu duy nhất của Việt Nam hiện nay là Dung Quất, có công suất 130.000 thùng/ngày, đi vào vận hành từ năm 2009, mới chỉ đáp ứng được khoảng 1/3 nhu cầu các sản phẩm dầu của cả nước. Dự án lọc dầu Nghi Sơn với công suất 200.000 thùng/ngày còn đang bị trì hoãn.

Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Bình Định cho biết, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thiện đánh giá cao nỗ lực của PTT, đồng thời yêu cầu nhà đầu tư chứng minh nguồn tài chính và khẩn trương hoàn chỉnh báo cáo khả thi để làm việc với các bộ, ngành Trung ương và báo cáo chính phủ hai nước.


Nguồn: VnEconomy

24 tháng 3, 2013

, ,

Khôi phục BĐS mất 6 năm, giảm 60% giá trị

Mức thu nhập bình quân đầu người thấp trong khi đó giá nhà tại Việt Nam lại cao nhất nhì khu vực khiến cho không ít chuyên gia bất động sản nước ngoài phải giật mình.

Sửng sốt giá nhà

Mới đây trong một cuộc trao đổi với Vietnamnet, ông Sam Cucurullo, chuyên gia Quản lý bất động sản khu vực Châu Á Thái Bình Dương cho hay, khi đi trên đường, mọi người chỉ cho ông một số căn nhà rồi nói giá của căn nhà đó và tôi thấy rất sững sờ: “Tôi không hiểu, người Việt Nam thu nhập có mức bình quân như vậy mà lại mua được một căn nhà như thế.”

Ông Sam cho rằng, bất động sản Việt Nam tương tự như Ấn Độ, thu nhập bình quân của người dân thấp nhưng lại có giá nhà cao và đa số người dân không đủ sức để mua nhà. Ở một số nơi như Bắc Kinh, Thượng Hải (Trung Quốc) và Tokyo (Nhật Bản) có giá bất động sản rất cao, nhưng mức lương của họ cũng tương đối cao nên họ có thể mua được bất động sản. Khi nền kinh tế khó khăn, thu nhập của người dân giảm sút và họ không có khả năng chi trả cho những khoản lớn như bất động sản. 


Theo báo cáo của Ủy ban kinh tế Quốc hội, giá bất động sản ở các thành phố lớn của Việt Nam thuộc loại cao trên thế giới trong khi thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới. Giá nhà đất tăng lên 100 lần trong vòng 20 năm. Giá nhà ở trung bình cao hơn 25 lần so với thu nhập bình quân của người lao động. Giá nhà ở lớn hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển và gấp 10 lần so với các nước chậm phát triển. Trong khi đó, so với thu nhập, giá bất động sản trung bình ở các nước châu Âu chỉ bằng 7 lần, Thái Lan 6,3 lần, Singapore là 5,2 lần.

Thống kê của một đơn vị tư vẫn cũng cho thấy, giá nhà ở Việt Nam đang ở mức cao, bất hợp lý. Đơn cử, khu vực phố cổ giá nhà đắt nhất là ở các căn góc mặt phố tại các khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đôi khi đắt ngang giá nhà ở Tokyo hay Paris. Giá 1m2 nhà đất tại các phố như Hàng Gai, Cầu Gỗ hay Hai Bà Trưng có thể lên tới mức 21.000 - 27.000USD/m2.

Ông Sam cho rằng, có nhiều lý do dẫn đến tình trạng bất động sản gặp phải nhiều vấn đề khó khăn như hiện nay. Trong đó một trong những nguyên nhân chính là nguồn cung quá lớn, vượt sức hấp thụ của thị trường. Chuyên gia này lấy dẫn chứng, một dự án tại Hà Nội có tới 1.500 căn trong khi đó số người đến ở rất ít. “Theo tôi, người ta nên xây từng giai đoạn, có thể gối đầu hoặc dần dần. Đây cũng là giải thích vì sao thị trường Việt Nam lại như thế, nguồn cung lớn, chủ đầu tư xây rất ồ ạt trong khi mức thu nhập của người dân rất thấp” ông Sam nói.

Lời giải cho thị trường

Đưa ra giải pháp cho thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay, ông Sam cho rằng, có lẽ trước mắt Việt Nam nên dừng xây dựng các dự án để thị trường có thể hấp thụ hết nguồn cung hiện tại. Lý do khác là lãi suất quá cao dẫn tới tình trạng nợ xấu nhiều.

Chuyên gia này cho rằng, việc định giá về bất động sản là cần thiết. Giá cả bất động sản bị đẩy cao là do bất hợp lý về cung cầu. Bởi vậy, nếu quản lý bất động sản tốt thì sẽ kéo giá nhà xuống thấp.

“Giá cả hình thành dựa trên quan hệ cung cầu, do thị trường quyết định. Nhưng cũng cần có một cơ quan thẩm định giá của Chính phủ để xác định rõ mức giá thực là bao nhiêu. Đơn cử như những người đang nắm giữ một khoản nợ xấu, thì họ cần có một ý kiến chính xác để biết khoản nợ xấu hay bất động sản đó được định giá thế nào”, ông Sam nói.


Ông John Sheehan, thành viên Tổ chức giám định bất động sản Hoàng gia (FRICS) của Anh cho rằng, có sự can thiệp của Chính phủ. Thị trường bất động sản không đủ khả năng để tự cứu mình. Sự can thiệp của Chính phủ càng lớn thì sự khôi phục của thị trường càng nhanh.

Thời gian trung bình để khôi phục thị trường bất động sản sau khi có những biện pháp điều chỉnh trung bình khoảng 6 năm và bất động sản sẽ mất 60% về mặt giá trị. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn phủ nhận thường kéo dài khoảng 2 năm. Còn những vấn đề về nợ xấu trên thị trường kéo dài 4 năm.

Theo quan điểm của ông John Sheehan, Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu tiên là giai đoạn phủ nhận, phải qua được giai đoạn này và chấp nhận bỏ ra chi phí thực tế để xử lý nợ xấu thì sau đó mới có thể xác định được giai đoạn phục hồi mất bao lâu.

Đưa ra lời khuyên cho người mua nhà, ông John chia sẻ quan điểm cá nhân: “Trong thời điểm này tôi sẽ không mua nhà nếu không có nhu cầu thực cần nhà ở do thị trường đang trong giai đoạn phủ nhận. Sẽ còn nhiều điều chỉnh, sau đó mới đến giai đoạn xử lý nợ xấu, kế đó mới tới giai đoạn phục hồi, dần đi vào ổn định và quay về giá trị thật. Tôi sẽ chờ đợi đến lúc đó. Còn nếu đầu tư vào nhà ở hiện nay, có thể mức giá không phải là thật.”
Nguồn: Vef
,

Tại sao nhiều nền kinh tế cứ mãi “mới nổi”?

Năm 2013, Trung Quốc đặt mục tiêu tăng trưởng xuất nhập khẩu 10%. Trong ảnh: công nhân làm
hàng xuất khẩu sang châu Âu tại một phân xưởng may ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy - Ảnh: Reuters
TTCT - Trong số cuối năm 2012 trên chuyên san ngoại giao Foreign Affairs, một tác giả đã bàn về những nền kinh tế cứ mãi “mới nổi” (1). Trước đó, một nghiên cứu của Ngân hàng Credit Suisse cũng đã phân tích “tại sao một số nước thành công, một số nước khác lại thất bại?” (2).

Những háo hức về một “thế kỷ 21 của châu Á” cũng đang dần qua đi trước nan đề “giậm chân tại chỗ” của một số nước trong khu vực. Một lần nữa người ta đang xem xét lại những mặt được, chưa được hoặc không được để tìm lời giải mới cho sự phát triển.

Tăng trưởng nhanh, nhưng khoảng cách vẫn còn

Trên Foreign Affairs, Ruchir Sharma - trưởng bộ phận “các thị trường mới nổi và vĩ mô toàn cầu” của Tập đoàn Morgan Stanley Investment Management, và là tác giả của “Những quốc gia đột phá kinh tế đang đi tìm những phép lạ kinh tế mới” (3) - đã chỉ ra rằng “trong số 180 nước được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) theo dõi, chỉ có 35 nước là phát triển”. Trong giai đoạn từ 1950-2000, khoảng cách thu nhập bình quân đầu người giữa các nước tiên tiến và các nước đang phát triển cứ ngày càng xa hơn, ngoại trừ vài nhóm nhỏ các nước dầu hỏa vùng Vịnh, miền nam châu Âu sau Thế chiến thứ hai và các “con hổ” Đông Á. 

Chỉ từ sau năm 2000, các thị trường đang nổi lên đã bắt đầu rượt đuổi, song đến năm 2011 khoảng cách thu nhập đầu người giữa các nước giàu và các nước đang phát triển quay trở lại mức của những năm 1950. 

Nếu lấy bất kỳ một thập niên nào từ sau năm 1950 làm mốc quan sát cũng sẽ thấy chỉ 1/3 số thị trường mới nổi là đã có thể tăng trưởng với tỉ lệ 5%/năm hoặc hơn, không đầy 1/4 có thể giữ được tốc độ tăng trưởng này qua hai thập niên, và chỉ 1/10 giữ vững được tăng trưởng đó qua ba thập niên. Chỉ có Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Hong Kong duy trì được tỉ lệ tăng trưởng trong bốn thập niên. Trừ các nhóm nước và vùng lãnh thổ đó ra, đại đa số còn lại cứ thế mà giẫm chân tại chỗ! 

Nhấn mạnh vấn đề ở các nước mới nổi, tác giả khuyến cáo không quá khó để tăng trưởng với tốc độ nhanh khi bắt đầu từ một khởi điểm thấp, và rằng đem tốc độ tăng trưởng nhanh đó ra so với các nước ở những mức thu nhập khác thật là vô nghĩa. Tác giả khuyên “những ước vọng đó cần phải được đưa về với chân chạm đất” và rằng những ai đang đổ thừa cho suy thoái toàn cầu từ thập niên trước và thầm mong rằng rồi thì “những ngày hạnh phúc cũng sẽ quay trở lại” sẽ phải thất vọng! Những gì mà tác giả cảnh báo không xa lạ gì thuật ngữ “cái bẫy của nền kinh tế có thu nhập trung bình”.

Dự báo sau của tác giả rất đáng chú ý: trong thập niên tới, Mỹ, châu Âu và Nhật có lẽ sẽ tăng trưởng chậm. Thế nhưng, tình trạng “chậm lụt” này của các nước ấy lại ít đáng lo so với tình hình tăng trưởng chậm còn 3% hoặc 4% sắp tới của Trung Quốc, khi mà nền kinh tế này tiếp tục trưởng thành. Đơn giản là do dân số Trung Quốc quá đông và già đi quá nhanh để cho kinh tế có thể tăng trưởng (nhanh) như đã từng tăng trưởng.
Với hơn 50% dân số sống trong các thành phố, nay Trung Quốc đang đến gần điều mà các nhà kinh tế học gọi là “điểm bước ngoặt Lewis” (“Lewis turning point”, luận điểm của nhà kinh tế học William Arthur Lewis (1915-1991) chỉ điểm mốc mà số lao động thặng dư từ khu vực kinh tế tự cung, tự cấp (nông nghiệp) được hấp thụ hoàn toàn vào lĩnh vực hiện đại, để rồi tích lũy vốn tư bản cùng với quá trình tăng lương). Đây là kết quả của cả hai quá trình di dân ồ ạt đến các thành phố trong hai thập niên qua và quá trình cạn kiệt lực lượng lao động mà chính sách “một con mà thôi” đã tạo ra. 

Sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc phần nào đã do thế hệ lao động trẻ bao la này “kéo”. Song các điều tra dân số cho thấy lợi thế này đã qua rồi và mặt khác, vấn đề đặt ra là làm sao cung cấp cho thế hệ lao động mới những kỹ năng cần thiết để có thể cạnh tranh toàn cầu, cũng như làm sao các chính phủ (lần lượt ở Trung Quốc) có thể đề ra những chính sách đúng đắn để tạo việc làm.

Bí quyết để thành đạt

Làm sao để một quốc gia phát triển thành công chứ đừng cứ mãi mới nổi? Nghiên cứu của Ngân hàng Credit Suisse khẳng định rằng sự thăng tiến từ ngưỡng thu nhập thấp sang thu nhập trung bình, rồi sang thu nhập cao không hề là tự động và đa số các nền kinh tế mới nổi đều đã thất bại không thể vươn qua được việc khai thác sức lao động rẻ và tài nguyên. Những trường hợp suy thoái tụt lui và thất bại trong việc đi đến tiến bộ vẫn thường thấy nhiều hơn là những trường hợp thành công. 

Theo nghiên cứu của Credit Suisse, để có cơ may thành công trong việc vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” cần phải hội đủ các yếu tố tương tác lẫn nhau sau đây: a/ chất lượng cao và nhanh chóng cải tiến của vốn con người; b/ khả năng sáng tạo đổi mới tiến đến chuỗi giá trị (qua đào tạo kỹ thuật ngày càng ở trình độ cao, nỗ lực R&D - hoạt động nghiên cứu và phát triển - ngày càng nhiều hơn); c/ hạ tầng cơ sở vật chất cao cấp hơn; d/ cải thiện bầu không khí kinh doanh và tính minh bạch trong các quy định pháp luật; e/ diễn biến dân số thuận lợi. 

Nghiên cứu dự báo trong thập niên tới, trong số các thị trường mới nổi, chỉ có Trung Quốc và Malaysia (ít hơn) là có vài cơ may thành công. Trung Quốc hội đủ hầu hết các yêu cầu trên (như chất lượng vốn con người, thành tích sáng tạo, hoạt động R&D ngày càng cao, hạ tầng cơ sở vật chất). Tuy nhiên, Trung Quốc vấp phải hai thách thức gồm: bầu không khí kinh doanh và tình trạng thiếu “cởi trói” các ngành công nghiệp then chốt; tình trạng đầu tư thái quá cứ tăng do chính phủ cứ (thích) chi tiêu và đầu tư vốn cố định. 

Theo nghiên cứu, chỉ trong năm năm hay mười năm tới là sẽ có thể thấy Trung Quốc “vượt vũ môn” được hay không. Dự báo hiện nay là Trung Quốc có cơ may, song xác suất thành công không hơn 50%. Còn những thách thức đối với Malaysia là thành tích sáng tạo nghèo nàn, R&D thấp, bầu không khí kinh doanh “ỉu xìu”.

Tại sao nghiên cứu của Credit Suisse lại nhấn mạnh rằng chất lượng của vốn con người là yêu cầu đầu tiên của quá trình ra khỏi “vũ môn” thu nhập trung bình? Đơn giản là ở các nước công nghiệp, hiệu suất lao động được tính GDP/nhân viên, GDP/giờ lao động. Đây là những gì xa lạ ở các nước mà người công chức có mặt cho có, sức lao động chưa được đếm theo đầu người mỗi giờ, còn mơ hồ áng chừng một năm chỉ trị giá bấy nhiêu...

Thật trùng hợp, Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12 vừa qua giữa Chính phủ Việt Nam và các đối tác phát triển đã tập trung vào việc đặt nền móng cho tăng trưởng bền vững của Việt Nam. Các đại biểu đã thống nhất rằng đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển giáo dục và kỹ năng, đảm bảo chính sách đất đai hợp lý là những ưu tiên chính giúp Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thành công. 

Đặc biệt, một trong những chủ đề thảo luận chính là làm sao đảm bảo được chất lượng giáo dục và kỹ năng cao, điều kiện tiên quyết giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế công nghiệp hiệu quả là nguồn nhân lực có kỹ năng cao (4).
____________
(1): http://www.foreignaffairs.com/articles/138219/ruchir-sharma/broken-brics?page=show
(2): Viktor Shvets, “Why some countries succeed and others fail?”, Credit Suisse
(3): “Breakout Nations: In Pursuit of the Next Economic Miracles”. Xem định nghĩa trong “Breakout Nations: An Interview with Ruchir Sharma”
(4): Thông cáo báo chí Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam, ngày 10-12-2012
 Nguồn: Tuổi Trẻ