1. Gần đây, kinh tế tri thức được bàn luận sôi nổi
khắp nơi. Nhiều người rất hăng hái xem đây là cơ hội nghìn vàng cho đất
nước ta nhanh chóng bứt ra khỏi nghèo nàn lạc hậu. Nhưng cũng có ý kiến
cảnh báo rằng đặt cược quá cao vào kinh tế tri thức có thể làm chúng ta
xao lãng những vấn đề cấp bách nhất của nền kinh tế đang còn quá thấp
kém. Có lẽ mỗi ý kiến đều có phần đúng. Cái khó đầu tiên trong
chuyện này là nhận thức vấn đề sao cho khách quan, đúng mức và thực tế.
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa là bước tất yếu, có những
mặt tiêu cực cần đấu tranh chống lại, nhưng vẫn phải chấp nhận nó, chịu
chơi với nó, hơn nữa tuân thủ các luật chơi mới để tìm cách vươn lên. Mà
luật chơi mới là: ganh đua, cạnh tranh trí tuệ. Nói cách khác, sân chơi
mới là kinh tế tri thức.
Vì vậy không thể phát triển kinh tế tri thức mà từ chối
toàn cầu hóa, cũng như không thể cạnh tranh nổi trong nền kinh tế toàn
cầu hóa nếu không mở được cánh cửa vào kinh tế tri thức. Những diễn biến
gần đây cho thấy ta hội nhập quốc tế mà không theo kịp họ trong kinh tế
tri thức thì sẽ thua thiệt.
2. Khái niệm kinh tế tri thức xuất hiện vào đầu những
năm 80 của thế kỷ 20, nhưng chỉ gần đây mới rộ lên, nhất là từ khi phát
triển máy tính cá nhân, rồi Internet và xa lộ thông tin. Hiện nay chúng
ta đang đứng giữa cơn lốc nên cũng chưa xác định được gió sẽ ngả theo
chiều nào. Cách đây khoảng một năm thị trường chứng khoán ở Mỹ bốc lên
đột ngột theo sự bùng nổ các công ty dot.com, nhiều người tưởng thế giới
này chỉ có đầu tư vào đó mới là khôn ngoan nhất. Nhưng rồi cũng xẹp
xuống như bong bóng. Thất bại dẫn đến thất vọng. Sau một thời các ngành
kinh doanh dựa vào công nghệ thông tin phát đạt chưa từng thấy, nay bóng
ma suy thoái lại rình rập. Thị trường vi tính chững lại, hàng loạt công
ty công nghệ cao, kinh doanh điện tử, ngay cả ở Silicon Valley, bắt đầu
những cuộc sa thải, co cụm lại để chống đỡ luồng khí lạnh có cơ lan
tràn (riêng cổ phiếu Microsoft đã sụt hàng chục tỷ USD). Tuy nhiên,
nhiều người đánh giá, đây chỉ là thời kỳ tạm lắng để chuẩn bị bùng lên
theo một hướng mới. Chính vì thế mà Chính phủ Nhật Bản, mặc dù kinh tế
còn ảm đạm, vẫn dự định đầu tư 30 tỷ USD vào công nghệ thông tin trong
vài năm tới, coi đó là một trong các hướng chính để thoát ra khỏi thế
trì trệ kéo dài mấy năm nay. Nói cho đúng, Nhật Bản đã gặp khó khăn vì
đã ngủ quên trên những thành tựu công nghiệp điện tử dân dụng trong thập
kỷ 80, cho nên chậm bước trong cách mạng số hóa qua Internet. Hiện nay,
đến lượt Mỹ hình như cũng đã quá say sưa với những thành công theo
hướng số hóa nên có nguy cơ sắp tới sẽ bị các đối thủ qua mặt khi tiến
vào thời đại hậu vi tính.
Các bộ óc lớn đang chuẩn bị cho một bước ngoặt công nghệ
mới: Sau máy tính cá nhân là gì? Phải chăng là Truyền thông đa phương
tiện không dây, từ điện thoại di động 3G, 4G, phát triển lên truyền
thông đa phương tiện gọn nhẹ, nhanh chóng mà không cần dây nhợ lòng
thòng, cho phép không chỉ điện thoại, thư điện tử và fax, mà cả kết nối
Internet, truy cập Web, thực hiện mọi dịch vụ điện tử hai chiều, ở đâu
cũng nhận được và gửi đi được mà không cần đến máy tính cá nhân hay để
bàn cố định như hiện nay. Có nghĩa là xã hội đa phương tiện không dây
đang tới gần. Các hãng Nokia (Phần Lan), Ericsson (Thụy Điển), DoCoMo
(NTT Nhật Bản) hiện đã đi trước Motorola của Mỹ trong cuộc chạy đua về
cái đích đó. Trong khi chờ đợi, mọi việc bớt ồn ào, không khí trầm lắng
hồi hộp trước những thay đổi lớn có phần dự đoán được nhưng cũng nhiều
phần chưa thể lường hết. Bên cạnh đó, nào là bản đồ gen người, nhân bản
người vô tính, thực phẩm biến đổi gen, rồi bệnh bò điên, dịch súc vật lở
mồm long móng, v.v..., biết bao nhiêu chuyện rắc rối nảy sinh từ cách
mạng công nghệ và toàn cầu hóa. Kinh tế tri thức không phải chỉ có mầu
hồng. Tình hình không phải chỉ sôi động một chiều có những cơ hội phất
lên hiếm có, mà cũng lắm bước thăng trầm ẩn chứa không ít rủi ro bất
trắc. Đây không phải là thứ trận địa cứ ào ào xông lên xung phong và
chiếm lĩnh được, mà cần có chiến lược thông minh, chuẩn bị kỹ và tổ chức
tốt.
3. Vì là sự vật lộn trí tuệ nên cần có quyết tâm, dũng
cảm, nhưng đầu óc và tài năng mới thật sự quan trọng. Phải thực hiện
cuộc cách mạng tư duy, thay đổi hẳn cách nghĩ trong hàng loạt vấn đề đời
sống kinh tế, xã hội cũng như khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục.
Có người gọi kinh tế tri thức là kinh tế mạng, để nhấn mạnh rằng chưa
bao giờ thế giới tràn ngập những tổ chức mạng như bây giờ, cho nên cách
nghĩ, cách quản lý, cách làm việc theo một hệ thống có trên có dưới, tôn
ti trật tự theo kiểu phong kiến hay tư bản thời công nghiệp hiện đại
cũng đã lỗi thời. Nói theo thuật ngữ khoa học, chưa bao giờ thế giới bộc
lộ tính hệ thống phức tạp cao như bây giờ. Không gian mở rộng, thời
gian rút ngắn, thông tin dồn dập, các loại hiệu ứng dây chuyền (kiểu như
khủng hoảng tài chính châu á vừa qua), hiệu ứng phụ (kiểu như các hiệu
ứng môi trường), hiệu ứng cộng năng (như Internet), ngày càng tác động
mạnh. Sự vật biến hóa theo những quy luật phi tuyến (cấp số nhân hay hàm
mũ: chẳng hạn cứ 18 tháng, tính năng máy tính tăng gấp đôi nhưng giá
thành còn bằng nửa), với độ ngẫu nhiên và phức tạp không ngừng tăng lên.
Nhiều vấn đề quản lý kinh tế xã hội đều không thể nhìn nhận theo tầm
mắt và quan niệm cũ. Hơn bao giờ hết, thành công trên các lĩnh vực kinh
doanh hay khoa học, công nghệ thường bắt nguồn ở những ý tưởng mới,
ngược lại thất bại thường do tư duy xơ cứng, không chuyển kịp tình hình.
Đã bước sang kỷ nguyên kinh tế tri thức với những đột biến công nghệ
liên tục thì trên mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, đối với từng người
hay từng cộng đồng sự thành bại được quyết định trước hết bởi khả năng
nhận thức được kịp thời những thay đổi và thích ứng mau lẹ với những
thay đổi đó, kể cả bằng cách tự thay đổi và hoàn thiện bản thân. Nhìn
lại xã hội Việt Nam ta cũng thấy rõ mọi thành công hay hư hỏng đều có
nguồn gốc sâu xa là tư duy có đổi mới kịp tình hình hay không.
Toàn cầu hóa chỉ mới biểu hiện tính hệ thống của thế
giới trên phương diện kinh tế, thương mại. Còn có những biểu hiện khác
của tính hệ thống của thế giới, nhất là trong quan hệ thiên nhiên - con
người mà ta phải chú ý để đối phó kịp thời trong thời đại kinh tế tri
thức. Chẳng hạn, tin tức cho biết nếu các nước giàu không thay đổi chính
sách phát triển công nghiệp của họ thì tới giữa thế kỷ 21, với mực nước
biển dâng cao dần do nhiệt độ quả đất tăng lên bởi hiệu ứng nhà kính,
Ai Cập, Việt Nam và Ba Lan sẽ là ba nước bị thiên tai nặng nề nhất.
Trước viễn cảnh đó, các nước nghèo không thể khoanh tay ngồi đợi thảm
họa đến để rồi kêu gọi sự giúp đỡ nhân đạo của thế giới mà phải nhanh
chóng chủ động thu hẹp khoảng cách trí tuệ với các nước giàu. Chỉ có như
thế mới ngăn được xu thế các nước giàu độc quyền phát triển các ngành
công nghiệp cao, vừa sạch sẽ vừa thu lời nhiều, sử dụng toàn cầu hóa và
khoảng cách số để chuyển tất cả các ngành công nghiệp năng lượng và chế
biến ô nhiễm sang cho các nước nghèo hứng chịu hậu quả.
4. Trong bối cảnh vừa có sáng có tối, có thuận có nghịch
đó ta cần làm gì, cần có những cải cách gì, để mở đường cho xã hội Việt
Nam gỡ lại sự chậm trễ thời gian qua, nhanh chóng tiến kịp thế giới
trong kỷ nguyên trí tuệ?
Trước hết và căn bản nhất là phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế
quản lý (thể chế, chính sách, luật pháp, bộ máy). Nói theo thuật ngữ
thông tin, đây chính là phần mềm hệ thống để vận hành xã hội. Người Việt
Nam thường được coi là thông minh, nhưng đó mới chỉ là thông minh cá
nhân, chưa phải thông minh cộng đồng. Ta cũng thường nói dân tộc ta có
tiềm năng trí tuệ lớn, nhưng từ lâu chúng ta cứ tự hào mãi về cái tiềm
năng ấy mà đất nước vẫn cứ lạc hậu, Việt Nam vẫn thuộc những nước nghèo
nhất thế giới, GDP bình quân của Việt Nam mới bằng 1/14 Malaysia, 1/30
Hàn Quốc, tại sao như vậy? Tại sao cái tiềm năng ấy chưa được phát huy,
điều gì ngăn trở giải phóng cái tiềm năng ấy? Giải đáp nghịch lý này chỉ
có một cách trả lời: vì cơ chế quản lý chưa thuận, vì trí tuệ cộng đồng
chưa cao, vì cái phần mềm hệ thống còn nhiều trục trặc, vì trí tuệ và
tài năng đang bị vướng mắc bởi một cơ chế tự thân mâu thuẫn, thiếu nhất
quán. Do đó vấn đề cốt tử là nên tập trung trí tuệ cải cách quản lý, xây
dựng một môi trường kinh tế xã hội lành mạnh và thoáng đãng, tự nó
khuyến khích mọi sáng kiến chủ động, tự nó phát huy mọi tài năng sáng
tạo, đồng thời tự nó hạn chế, loại trừ những yếu tố và xu hướng tiêu
cực.
Nhiều thí dụ lịch sử đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này, tưởng không cần nhắc lại vì ai cũng đã biết rõ:
- Khoảng cách công nghệ giữa Tây Âu và Mỹ những năm 60 không phải do người Mỹ tài giỏi gì hơn mà chủ yếu do cách quản lý của Mỹ thuận lợi hơn cho tài năng nảy nở và phát triển.
- Singapore, Hàn Quốc, Hồng Công lên nhanh đâu phải vì các dân tộc họ thông minh hơn Việt Nam.
- Ngẫm lại bản thân ta cũng thấy quá rõ: nếu 15 năm trước, Việt Nam không đổi mới thì bây giờ Việt Nam đang ở đâu trên thế giới này?
5. Trong cơ chế quản lý thì bộ phận lạc hậu cần cải cách
nhất là quản lý tài chính, tiền tệ và quản lý hành chính. Tài chính
tiền tệ là lĩnh vực nhạy cảm nhất trong kinh tế thời nay, còn hành chính
là bộ máy trực tiếp hàng ngày với người dân. Riêng đối với chúng ta, có
hai căn bệnh kinh niên trầm trọng, mà nếu không khắc phục được thì có
bàn tới kinh tế tri thức cũng vô ích:
- Tham nhũng. Chuyện này quá cũ, quá nhàm, nếu cứ tiếp
tục cách chống tham nhũng như chúng ta đã làm từ hàng chục năm nay thì
có lẽ mười năm nữa tình hình cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Cần phải thay
đổi cách nhìn, đi sâu vào những nguyên nhân gì đưa đẩy cả một xã hội vốn
rất tốt đến chỗ một bộ phận tham nhũng, dối trá xuất hiện ở mọi ngành,
mọi nơi. Trong y tế có thời chúng ta đã đề ra một khẩu hiệu cực kỳ sáng
suốt: Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Khẩu hiệu ấy cũng đúng cho mọi lĩnh vực.
Chống tham nhũng tất nhiên phải trừng trị và trừng trị nghiêm, song
điều quan trọng hơn là phải phòng tham nhũng, và muốn vậy phải có phương
thức quản lý tài chính và chế độ phân phối thu nhập hợp lý. Trong khi
tiền lương không đủ sống thì chống tham nhũng thế nào đây? Do đó, nếu
không khẩn trương cải cách quản lý tài chính tiền tệ như các nước văn
minh thì mọi cải cách khác đều khó.
- Quan liêu, lãng phí. Chuyện này cũng quá cũ và cũng
như tham nhũng, đây là hậu quả không thể tránh của cách quản lý tài
chính tiền tệ luộm thuộm, và chế độ lương phi lý, khiến cho các cơ quan
hành chính, thay vì phục vụ dân, đã vi phạm quyền làm chủ của dân. Do đó
phải coi cải cách hành chính là việc cấp bách để có thể thực hiện thuận
lợi các cuộc cải cách khác. Vấn đề chỉ ở chỗ cải cách như thế nào cho
có hiệu quả vì sau mấy năm thực hiện, dư luận chung cho rằng chính công
tác này cũng chưa làm tốt: chưa ổn, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức,
thì giờ, mà kết quả chẳng được mấy.
6. Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong điều
kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức phải bắt đầu từ việc nâng cao sức
cạnh tranh ở các lĩnh vực công nghiệp thấp và vừa của nông, công nghiệp
truyền thống. Tình trạng hiện nay là ngay trong các lĩnh vực này, năng
suất lao động của ta quá thấp, không đủ sức cạnh tranh với các nước vì
làm ăn kém thông minh, thể hiện ở sự thiếu tính toán hiệu quả, không có
tư duy so sánh (mía đường, xi-măng là thí dụ). Ta băn khoăn cân nhắc
giữa tư nhân hay Nhà nước, tập thể hay cá nhân, mà không thấy điều quan
trọng hơn là phân phối của cải làm ra sao cho công bằng để kích thích
được kinh tế phát triển lành mạnh.
7. Phát triển kinh tế tri thức hiển nhiên đòi hỏi phải
xây dựng kết cấu hạ tầng thích hợp. Tuy nhiên, đi đôi với kết cấu hạ
tầng vật chất kỹ thuật sờ mó được, và hơn nữa có tiền là xây dựng được,
phải hết sức chú trọng kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội, trước hết là giáo
dục và khoa học, là những thứ mà chỉ có tiền thôi cũng chưa đủ để xây
dựng tốt.
Chúng ta đã bàn nhiều về giáo dục, đã có Nghị quyết T.Ư,
đã có luật Giáo dục, chẳng còn thiếu thứ gì, mà vẫn ì ạch, tại sao? Tôi
đã có nhiều dịp phát biểu và kiến nghị cụ thể, ở đây chỉ xin nhấn mạnh
thêm: muốn tiến nhanh và vững trong thời đại kinh tế tri thức, ưu tiên
hàng đầu phải đặt vào việc chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục,
và hơn nữa, phải nhanh chóng tiến tới phổ cập đại học - chứ không chỉ
dừng ở trung học cơ sở (THCS) hay trung học phổ thông (THPT). Mới nghe
tưởng chừng là một mục tiêu quá xa vời, nhưng suy nghĩ kỹ hơn và nhìn xu
thế ở các nước ngay trong khu vực, chứ chưa nói tới các nước tiên tiến
trên thế giới, tôi tin rằng đối với Việt Nam không có cách lựa chọn nào
khác nếu thật sự muốn vươn lên nhanh bằng con đường trí tuệ. Phổ cập đại
học sẽ giải quyết được nạn thất học, nhu cầu học tập chính đáng của
nhân dân, sẽ có điều kiện tốt hơn để phát hiện và bồi dưỡng tài năng
trẻ, mở rộng các cánh cửa vào kinh tế tri thức, đồng thời là biện pháp
gián tiếp giải quyết nhiều vấn đề bức xúc: phát triển dân chủ, hạn chế
và chống tội phạm, tạo công ăn việc làm ổn định.
Câu hỏi đặt ra là: giáo dục THCS và THPT còn chưa xong
thì làm sao phổ cập đại học? Để trả lời câu hỏi đó nên dựa vào kinh
nghiệm chống mù chữ và phát triển giáo dục phổ thông ngay trong kháng
chiến trước đây. Sự thật là nếu cải tổ giáo dục, sử dụng hợp lý hơn đội
ngũ trí thức và thầy giáo các cấp, sửa đổi cách thi cử, tránh được những
lãng phí cực kỳ to lớn trong quản lý giáo dục hiện nay, đồng thời tận
dụng các thành tựu công nghệ thông tin thời đại Internet thì sẽ đủ khả
năng vật chất đi nhanh đến phổ cập đại học. Tất nhiên có nhiều khó khăn,
nhưng chắc không thể khó hơn phát triển giáo dục trong hai cuộc kháng
chiến. Mà cần nhớ rằng chính nhờ có người lính, người dân có trình độ
học vấn khá cao so với thời kỳ trước đó, mà ta đã đánh thắng được kẻ
địch mạnh hơn gấp nhiều lần về vũ khí tối tân. Tôi nghĩ rằng tiến nhanh
đến phổ cập đại học là tiếp tục con đường truy
Nguồn: Chúng Ta
