Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại học. Hiển thị tất cả bài đăng

24 tháng 3, 2013

, ,

Giáo dục ĐH: Về tổng thể, ta vẫn đang đi xuống

GS.TSKH Phùng Hồ Hải - Ảnh: Thư Hiên
TTCT - “Muốn có người học giỏi thì phải có thầy giỏi, muốn có thầy giỏi thì thầy của thầy phải giỏi”.

GS.TSKH Phùng Hồ Hải, phó viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, nói với TTCT trong cuộc trò chuyện đầu năm về con đường phát triển giáo dục đại học mà ông cho là “không thể bước vội, càng không thể chạy đua” khi mà ngay cả chất lượng tối thiểu vẫn chưa đảm bảo. 

GS Phùng Hồ Hải nhận xét: 

- Chất lượng đào tạo đại học của mình đang rất không ổn. Riêng với ngành toán, ngành của tôi, thì có thể khẳng định là rất đáng báo động. Cách đây 10 năm, chúng tôi tưởng chúng ta chỉ thiếu tiền, thiếu điều kiện cơ sở vật chất để đào tạo cho tốt chứ không thiếu người học giỏi. Vì thế chúng tôi không ngừng tìm kiếm học bổng ở các trường đại học tốt cho sinh viên. Nhưng thực tế mà chúng tôi đang đối mặt là người học chứ không phải chỗ học ở nước ngoài. 

Bây giờ, nếu có sinh viên giỏi thì người ta có thể cho chúng tôi vài ba chục suất học bổng ngay lập tức. Nhưng việc tìm được khoảng mươi em đáp ứng được các tiêu chí về chất lượng để ra nước ngoài học không đơn giản. 

* Phải chăng chất lượng đầu vào thấp nên đầu ra khó mà cao, thưa giáo sư? 

- Nếu bảo do chất lượng đầu vào nghĩa là đổ lỗi cho người học. Không đúng! Tôi nghĩ là do chất lượng đào tạo, do chất lượng giảng viên của chúng ta thấp. Cần phải nhìn thẳng vào thực tế. Muốn có người học giỏi thì phải có thầy giỏi, muốn có thầy giỏi thì thầy của thầy phải giỏi. Thầy giỏi của chúng ta ít nên sinh viên của chúng ta chưa giỏi là phải thôi. 

Giải quyết vấn đề này thế nào đây? Tôi nghĩ là mình không thể đi nhanh được, “dục tốc bất đạt”. Không thể hi vọng trong thời gian ngắn mà xoay chuyển được tình thế. Bài học của nước Đức cách đây hơn chục năm là một ví dụ. Vì cần phát triển công nghệ thông tin, thủ tướng Đức khi ấy là ông Gerhard Schröder đưa ra một quy chế mới là cấp thẻ lưu trú cho 10.000 chuyên gia công nghệ thông tin, chủ yếu để hút chuyên gia giỏi từ Ấn Độ sang. Đó là một vấn đề lớn của Đức về chính trị nhưng ông Schröder vẫn chấp nhận. 

Tại sao, trong khi nước Đức có 100 trường đại học? Bởi vì ngay cả một nước phát triển như nước Đức khi phải giải quyết bài toán nhân lực cao cũng hiểu rằng 100 trường đại học của họ không dễ gì đào tạo ngay được 10.000 chuyên gia! Vậy mà nước mình đặt ra mục tiêu trong 10 năm đào tạo 20.000 tiến sĩ.

Chỉ có mươi trường đáng gọi là “University”

* Giáo sư lo rằng do nóng lòng tăng quy mô mà chất lượng không đảm bảo? 

- Rõ ràng là như thế! Việc mở rộng quy mô quá nhanh mà không quan tâm tới chất lượng những năm qua giống như việc ta đổ cả lít nước vào một cốc rượu, loãng ra hết nên không còn phân biệt được giỏi, kém! Chúng ta không có cơ chế phân biệt trường tốt và trường không tốt khiến những sinh viên giỏi thua thiệt. Bằng cấp của sinh viên tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu không hơn gì một cơ sở đào tạo làng nhàng khác. 

Người học bao giờ cũng nhìn vào thực tế. Nếu anh không cần học mà vẫn có hiệu quả thì mắc mớ gì anh phải học? Tuy nhiên gần đây đã có sự thay đổi theo tôi là đáng mừng từ một số nhà tuyển dụng. Họ phản ứng bằng cách cho vào sổ đen những cơ sở đào tạo kém. Nhiều nơi phản ứng, cho rằng làm như thế là trái luật. Tôi thì ủng hộ. 

* Đã có rất nhiều ý kiến than phiền về chất lượng đào tạo đại học của ta, cho rằng điều khiến đại học Việt Nam không thể vượt lên được là do quá thiếu vắng nghiên cứu khoa học có chất lượng bên cạnh việc giảng dạy. Ý kiến của giáo sư về vấn đề này thế nào?

- Trường đại học theo đúng nghĩa mà tiếng Anh gọi là University thì theo tôi, ta có không quá 10 trường đáng được gọi như vậy. Nếu nhìn lại lịch sử từ những năm 1970-1980, chúng ta cũng đã có từng đó trường thôi. Đội ngũ giảng viên, đồng thời là các nhà khoa học của những trường này chủ yếu được đào tạo ở nước ngoài. Do điều kiện kinh tế - xã hội, trong một giai đoạn dài họ không phát triển được hoạt động nghiên cứu. Cái mà họ có thể duy trì được là giảng dạy, và đó đã là một cố gắng lớn của họ rồi. 

Bây giờ mới là lúc chúng ta có thể nghĩ đến việc xây dựng lại nền giáo dục đại học mà trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học thực chất là yếu tố quyết định chất lượng. Vấn đề phải thảo luận ở đây là xây dựng lại như thế nào? 

Sở dĩ giảng viên đại học của chúng ta không nghiên cứu khoa học là vì họ không có điều kiện để nghiên cứu. Họ phải dạy quá nhiều. Một giáo sư ở châu Âu, nếu phải dạy một tuần chín tiết thì họ đã kêu trời rồi, vì họ cho như thế là dạy quá nhiều. Bình thường mỗi giáo sư chỉ dạy bình quân 4-6 tiết/tuần. Có thế chất lượng giảng dạy mới đảm bảo và họ mới có thời gian để nghiên cứu. Nhưng ở ta, bình quân mỗi giảng viên một học kỳ dạy 300 tiết, chia ra 15 tuần thì mỗi tuần 20 tiết... 

* 20 tiết/tuần là bằng định biên của một giáo viên phổ thông...

- Đúng thế. Nhưng các anh ở Bộ Tài chính lại bảo một người bình thường làm việc 40 tiếng/tuần, các anh dạy 20 tiết thì mới bằng nửa thời gian đi làm của người ta! Chấm hết!

Làm khoa học như làm xây dựng

* Dư luận đang sốt ruột vì các nước xung quanh đều có vẻ như đang vượt lên chúng ta. Nếu cứ phát triển theo nhịp điệu trước đây thì có vẻ mãi mãi chúng ta tụt hậu...
- Tôi nghĩ cái đó chúng ta hơi tự làm khổ mình. Mình cứ nghĩ xung quanh họ vượt mình, thật ra mình đã bao giờ bằng họ đâu mà cứ lo họ vượt mình. Từ trước đến nay mình có thể so mình được với ai? Lào hay Campuchia? Trước kia tôi cũng đi nước ngoài nhiều, nhưng toàn đến những nơi mình yên tâm là chắc chắn họ hơn mình nên cũng chẳng nghĩ ngợi nhiều.
Vừa rồi khi sang Đài Loan và Hàn Quốc thì tôi thất vọng hẳn, thấy cái sự “hơn” của họ xa quá, không biết đến bao giờ mình có thể tiệm cận họ. Dường như họ đang đi bằng ôtô mà mình vẫn đi bộ, lại còn chưa biết nên đi hướng nào! Mình cứ lo mình tụt hậu trong khi mình chưa bao giờ bằng họ cả. Vì vậy nếu đưa cái lý lẽ đó để đi vội thì tôi thấy không hợp lý.
Bây giờ phải lo làm sao để mình đừng đi xuống so với chính mình. Dường như trên đà vài chục năm nay, về tổng thể, nền giáo dục của mình đang đi xuống. Có thể quy mô và các con số thành tích ảo thì đi lên, nhưng rõ ràng chất lượng đang đi xuống.
* Nhiều người cho rằng Nhà nước nên đầu tư khôn ngoan hơn cho đại học. Cũng từng đó tiền nếu ta thu hẹp quy mô đầu tư thì hiệu quả sẽ cao hơn? Giáo sư nghĩ sao?

- Nói gì thì nói, trường đại học muốn mạnh thì điều đầu tiên là phải có thầy giỏi. Anh muốn trường đại học của anh ở tầm khu vực thì người thầy của anh phải đạt tầm khu vực. Nhưng để có thầy giỏi thì trước hết phải làm sao để thầy yên tâm nghiên cứu, giảng dạy. Nếu thầy còn phải loay hoay mưu sinh thì tôi nghĩ chẳng còn cách nào để vực nền giáo dục đại học lên được. 

Thứ hai, trường đại học đúng theo nghĩa thì phải có nghiên cứu. Mà nếu muốn nghiên cứu, anh không thể dạy quá nhiều được. Nhà nước quy định tỉ lệ sinh viên/giảng viên là đúng. Nhưng vì tôi tuyển ít sinh viên mà anh cấp cho tôi ít tiền thì cũng vô nghĩa. 

Tôi nghĩ đầu tư cho trường đại học theo số lượng sinh viên là cái vòng luẩn quẩn: anh bảo trường này là trường trọng điểm nhưng tiền anh lại đầu tư theo số sinh viên thì tôi không hiểu trọng điểm chỗ nào? Cuối cùng các thầy lại phải tìm dự án và rồi rất bận rộn vì phải viết báo cáo, làm đề án, bảo vệ đề án, nghiệm thu đề án... Để làm gì? Để hợp thức hóa thu nhập của mình. Cuối cùng tiền vẫn rót về, thầy vẫn được nhận từng ấy, nhưng phải giải trình để nhận được số tiền đó, thời gian giải trình hết cả năm học!

* Đấy có phải là lý do mà nhiều nơi tuy nhiều giáo sư, phó giáo sư, nhiều công trình nghiên cứu nhưng chất lượng nghiên cứu vẫn bị người ta kêu? 

- Chuyện một giáo sư có nghiên cứu hay không cũng do trách nhiệm của giáo sư đó nữa. Nếu nói rằng tôi mất nhiều thời gian quá để viết đề án, không còn thời gian nghiên cứu thì chỉ là ngụy biện. Nhưng mặt khác, khi thấy giáo sư A chỉ làm như thế mà ông ấy sống tốt thì giáo sư B sẽ cho rằng tại sao mình phải làm khác? Nếu anh quy trách nhiệm cho giáo sư cũng đúng nhưng nếu tất cả làm sai thì xử lý thế nào? 

Đến đây, điều cần làm là nhìn lại xem chính sách của mình hợp lý hay chưa! 

* Giáo sư cho là đang thiếu một chính sách quản lý, công cụ kiểm soát tốt?

- Tôi nghĩ là như thế. Thay vì một năm phải bắt bao nhiêu giáo sư đăng ký đề tài khống, đề tài ma mà kinh phí vẫn chừng đó thì anh hãy chuyển thành lương cho giáo sư! Nếu giáo sư nào làm không tốt thì anh thay, nhận người khác. 

Lẽ ra chi cho lương, ràng buộc bằng trách nhiệm thì giờ đây lại quản lý mọi thứ bằng hợp đồng. Chúng tôi làm khoa học vậy mà phải ký không biết bao nhiêu cái gọi là “hợp đồng nghiên cứu”! Cái gì cũng ra hợp đồng cả, cứ như làm xây dựng. Vài ba triệu cũng phải làm cái hợp đồng rất mất thời gian mà cuối cùng vẫn là kinh phí đó. 

* Nhưng thật ra tiền đầu tư cho khoa học có ít không, thưa giáo sư? 

- Tôi từng phát biểu tiền đầu tư cho khoa học không hẳn là ít, mà là không hiệu quả. Tôi chẳng thấy nước nào giáo sư thuộc thành phần giàu có trong xã hội mình đang sống cả. Những người làm khoa học đều xác định nếu muốn giàu có thì đừng làm nghề này. Tuy nhiên ở ta, nếu so với mặt bằng thu nhập của người dân thì nhiều giáo sư rất giàu. Nhưng họ vẫn kêu, vì họ thấy ông giáo sư bên cạnh giàu hơn và họ tìm cách để được giàu như thế. 

Cơ chế quản lý của mình bất cập ở chỗ đó, anh không cần làm khoa học đích thực mà chỉ làm cái này cái kia đã có tiền tỉ. Đề tài của ngành toán thường ít nhưng các ngành khác thì một đề tài làm trong một năm có kinh phí vài ba tỉ đồng không phải là hiếm. Nhưng cuối cùng chúng ta vẫn chẳng được mấy công trình cho ra hồn!

Đừng tự làm khổ mình

* Trong phát triển giáo dục đại học hiện nay có hai xu hướng cơ bản trái ngược nhau. Có ý kiến cho rằng phải duy trì nền đại học tinh hoa, nhưng cũng có nhiều người có quan điểm cần phải phát triển đại học đại chúng để đảm bảo tỉ lệ sinh viên/nghìn dân bằng được các nước trong khu vực...

- Đặt vấn đề dạy lớp 1 cho thật tử tế còn khó nữa là đòi hỏi tỉ lệ sinh viên/nghìn dân phải là bao nhiêu! Tỉ lệ sinh viên/ nghìn dân thấp chỉ có ý nghĩa duy nhất là bộc lộ một thực tế: dân trí của chúng ta thấp. Chúng ta không thể qua một đêm mà nâng dân trí lên được, cũng như không thể qua một đêm mà nâng tỉ lệ sinh viên lên nếu muốn có đông nhân lực trình độ đại học theo đúng nghĩa đích thực của nó. 

Mình có thể mở đại học ra khắp nơi nhưng vấn đề là chất lượng như thế nào? Không có nước nào trên thế giới mà giảng viên đại học lại không phải là tiến sĩ! Vì thế mà câu chuyện mở rộng đại học phải bắt đầu bằng việc đào tạo tiến sĩ. Nhưng như tôi phân tích ở trên, câu chuyện 20.000 tiến sĩ cho đến năm 2020 là không khả thi. Vậy thì chúng ta lấy đâu ra người mà dạy đại học? 

* Cho nên bàn về “đại chúng” hay “tinh hoa” trong bối cảnh này là vô nghĩa? 

- Là chưa hợp lý. Mình phải đảm bảo chất lượng tối thiểu của đào tạo đại học đã. Tất nhiên số lượng cũng sẽ tạo ra chất lượng nhưng không thể qua một đêm mà có được, nhất là chuyện trồng người thì người ta vẫn dùng đến đơn vị trăm năm... 

* Nhưng cá nhân giáo sư thì năm 2012 là một năm thành công đấy chứ! Thậm chí giáo sư còn được giới phóng viên giáo dục đồn thổi là người trốn báo chí thành công nhất? 

- (Cười) Tôi đang so sánh giữa thế hệ này với thế hệ khác chứ không phải nói về sự phát triển của một cá nhân. Về việc báo chí cứ tìm tôi khi tôi được phong giáo sư, tôi thật sự lấy làm lạ. Tôi không nghĩ mình đáng được nhiều người quan tâm và quan tâm nhiều đến thế. 

Tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu tại sao người ta lại gán cho tôi cái danh “giáo sư trẻ”? Việc các nhà khoa học khác được phong giáo sư năm nay nhiều tuổi hơn tôi hoàn toàn chỉ là một sự tình cờ. Anh Nguyễn Quang Diệu thua tôi bốn tuổi mà được phong giáo sư trước tôi một năm. Người ta cứ muốn xoáy vào những chuyện mà tôi thấy rất lạ lùng. 

Bình thường đọc những bài giáo sư trẻ nọ kia tôi đã không cảm thấy thích, giờ chính mình lại bị làm “chim mồi” thì tất nhiên là không thể chịu được rồi. Báo chí tìm đến, nói thật là tôi thấy rất khó xử. Nhiều khi tôi cũng muốn giúp các bạn nhà báo nhưng trong vụ “giáo sư trẻ” này tôi thấy mình thiệt thòi nhiều quá nên đành phải để cho mọi người thất vọng. 

* Xin cảm ơn giáo sư!
Nguồn: Tuổi Trẻ

22 tháng 3, 2013

, ,

Đại học và nghiên cứu khoa học ở Bắc Triều Tiên

Bắc Triều Tiên dĩ nhiên là một quốc gia khép kín và kì cục nhất trên thế giới. Khép kín và kì cục do họ tự chọn. Do đó, những thông tin về hoạt động khoa học ở Bắc Triều Tiên rất hiếm hoi. Hệ thống giáo dục đại học của nước này lại càng ít ai biết đến. Nhưng tôi mới đọc một bài báo viết về hợp tác khoa học với Bắc Triều Tiên, và qua đó có thể thu thập vài dữ liệu thú vị.

Ai cũng biết Bắc Triều Tiên là một nước theo xã hội chủ nghĩa, nhưng không theo … Mác Lê. Triết lí của Đảng Lao động Triều Tiên là tự lực – juche, chứ không hẳn là theo chủ nghĩa Mác Lê. Ít ai biết rằng dù chính danh là xã hội chủ nghĩa, nhưng tất cả các đề cập đến “cộng sản” (hay communism) đều bị loại bỏ khỏi hiến pháp, loại bỏ khỏi các văn bản pháp luật. Xem ra việc này Bắc Triều Tiên có phần khác với Việt Nam, vì dự thảo hiến pháp năm nay danh từ “cộng sản” xuất hiện 2 lần, và xã hội chủ nghĩa 30 lần.

Ít người biết rằng Bắc Triều Tiên là nước rất xem trọng khoa học. Theo giới chuyên gia Mĩ, ở Bắc Triều Tiên, đầu tư cho khoa học chỉ đúng sau đầu tư cho quân sự. Bắc Triều Tiên cũng có nhiều hợp tác khoa học với ngoài, nhưng chỉ giới hạn trong nhóm các nước xã hội chủ nghĩa, như Liên Xô cũ, Đông Âu, và China.

Dù Bắc Triều Tiên là nước tự khép kín về chính trị, nhưng thông tin khoa học thì có vẻ cập nhật hoá tốt. Hiện nay, Bắc Triều Tiên gần như chẳng có liên lạc gì với thế giới bên ngoài. Ngay cả hệ thống internet cũng rất hạn chế. Một nhà khoa học Mĩ đến thăm Bắc Triều Tiên cho biết ngay khi đến phi trường, điện thoại di động của ông bị giữ lại, nhưng họ cho đem máy tính laptop vào. Khi vào khách sạn, mỗi lần muốn gửi email, ông phải viết tay rồi đưa cho tiếp viên khách sạn (người mà ông nghi là công an trá hình), người này gõ vào máy và gửi đi, chứ ông không được đụng vào máy tính! Nhưng Bắc Triều Tiên tự phát triển một hệ thống mạng trong nước gọi là Kwangmyong, giống như intranet vậy. Hệ thống này cũng là phương tiện các nhà khoa học chia sẻ thông tin với nhau, nhưng dưới sự điều hành của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ. Cũng qua hệ thống Kwangmyong, các nhà khoa học có thể đọc tập san khoa học nước ngoài và sách điện tử (ebook).

Bắc Triều Tiên có một website trông cũng hấp dẫn. Đó là trang web http://korea-dpr.com. Trang web có phần mô tả hoạt động khoa học, nhưng chẳng có nối kết nào để tìm thêm thông tin!

Đại học

Bắc Triều Tiên có 30 đại học, kể cả 10 đại học y khoa. Một số đại học lớn có thể kể đến là:

  • Đại học Kim Nhật Thành (Kim Il Sung University hay KISU) là đại học loại elite và đa ngành. Trường này thành lập năm 1946, ngay sau khi Bắc Triều Tiên thoát khỏi sự đô hộ của Nhật. Trường có 16,000 sinh viên, và là trường lớn nhất của Bắc Triều Tiên.
  • Đại học Công nghệ Kim Chaek (Kim Chaek University of Technology hay KCUT) có khoảng 10,000 sinh viên. Trường có hợp tác đào tạo với Đại học Syracuse của Mĩ.
  • Đại học Khoa học Tự nhiên (University of Natural Science). Trường này chỉ có 3000 sinh viên.
  • Đại học Khoa học và Công nghệ Bình Nhưỡng (Pyongyang University of Science and Technology – PUST) mới được thành lập, và bắt đầu tuyển sinh từ năm 2010.


PUST là một trường hợp rất thú vị, vì nó cho thấy Chính quyền Bắc Triều Tiên không bảo thủ (về giáo dục) như chúng ta tưởng. PUST là một trường tư thục duy nhất ở Bắc Triều Tiên. Trường do một nhóm Hàn Kiều ở Mĩ theo đạo Tin Lành xây dựng và điều hành. Toàn bộ chi phí xây dựng (45 triệu USD) đều do Hàn Kiều tài trợ. Xin nói thêm rằng Hàn Kiều ở đây là dân Nam Hàn (chứ không phải Bắc Triều Tiên). Trong số 29 giảng viên và giáo sư nước ngoài của PUST, hơn phân nửa là người Mĩ, hay Hàn Kiều. Trong khi cả nước ít ai có thể sử dụng Google thì ở PUST tất cả sinh viên đều có thể truy cập internet và dùng Google. Hiệu trưởng PUST là Tiến sĩ Chin Kyung Kim tự tin rằng trong vòng 10 năm, ông sẽ đưa PUST lên một đại học đẳng cấp quốc tế.

Khuôn viên Đại học Khoa học và Công nghệ Pyongyang (PUST)
Cần nói thêm rằng ông hiệu trưởng cũng là Hàn Kiều (từ Mĩ) từng bị Chính quyền Bắc Triều Tiên cho “lên bờ xuống ruộng”. Năm 1998, trong một chuyến đi làm từ thiện ở đây, ông bị bắt bỏ tù vì công an nghi ông làm gián điệp (ai họ cũng nghi là gián điệp)! Đến năm 2009, ông quay lại Bắc Triều Tiên và được chào đón như là khách danh dự, và đảm nhiệm chức hiệu trưởng PUST. Phó hiệu trưởng là người do Bộ Giáo dục Bắc Triều Tiên bổ nhiệm.

Năm 2011, PUST tổ chức một hội nghị khoa học, và qua các bài proceeding chúng ta có thể có vài ý niệm về nghiên cứu khoa học trong nước ra sao. Proceeding của hội nghị này có thể xem qua trang web sau đây: http://itri2.org/s/PUST.pdf (chú ý rằng tài liệu có trên 200 trang). Trong đó, có bài diễn văn của ông hiệu trưởng đọc cũng … được, nhưng hơi lan man. Bài diễn văn nói nhiều về ý nguyện hoà bình của Bắc Triều Tiên. Ông nói “We say that we want peace and I believe that we are sincere when we say that” (Chúng tôi nói rằng chúng tôi muốn hoà bình và tôi tin rằng chúng tôi thành thật khi nói ra câu đó). Chẳng hiểu sao lúc thì “chúng tôi”, lúc lại “tôi”. Ông còn nói ông từng học ở Âu châu vào thập niên 1960s và chứng kiến giáo dục có khả năng đánh đỗ bức tường Bá Linh và thống nhất Âu châu. Hình như ông lầm, vì thập niên 1980s chứ đâu phải 1960s (?) Nhưng thôi, ở Bắc Triều Tiên mà ông nói được như thế là hay rồi, và tiếng Anh của ông cũng khá.

Nghiên cứu khoa học

Rất khó biết Bắc Triều Tiên nghiên cứu gì, vì thiếu thông tin. Nhưng qua các chỉ số về công bố, chúng ta có thể có vài ý niệm về nghiên cứu khoa học ở đó. Tính từ 1975 đến 2012, tổng số bài báo khoa học của Bắc Triều Tiên trên các tập san ISI là 251 bài. Tuy nhiên, con số này có xu hướng tăng nhanh từ 2006. Năm 2011, các nhà khoa học Bắc Triều Tiên công bố được 30 bài, so với 3 bài mỗi năm trong những năm thuộc thập niên 1990.

Khoảng 40% bài báo khoa học từ Bắc Triều Tiên là hợp tác với nước ngoài. Những nước có hợp tác nhiều với Bắc Triều Tiên là China (25%), các nước trong khối OECD (13%), và các nước khác (kể cả Úc và Việt Nam) là 2%.

Phần lớn những bài báo này xuất phát từ những trường hàng đầu của Bắc Triều Tiên. Chẳng hạn như riêng trường ĐH Kim Nhật Thành (KISU) công bố 69 bài, ASK 45 bài, và KCUT 18 bài.

Về lĩnh vực nghiên cứu, khoảng 50% tập trung vào hai ngành vật lí và kĩ thuật & công nghệ. Có thể xem qua tỉ lệ bài báo như sau:
  • Vật lí: 26%
  • Kĩ thuật và công nghệ: 25%
  • Hoá học: 14%
  • Y học: 13%
  • Toán: 9%
  • Sinh học: 8%

Tóm lại, những dữ liệu trên cho thấy Bắc Triều Tiên rất quan tâm đến khoa học, và ở mức độ nào đó, có lẽ quan tâm hơn Việt Nam. Mặc dù các nhà khoa học Bắc Triều Tiên ít công bố nghiên cứu của họ trên các tập san quốc tế (có lẽ do chính sách giữ bí mật), nhưng rõ ràng nền công nghệ và kĩ thuật của họ không kém như thế giới tưởng. Bằng chứng là họ có thể phóng hoả tiễn và làm vũ khí hạt nhân. Nhưng Bắc Triều Tiên vẫn là một nước rất nghèo. Điều đáng ngạc nhiên là một đất nước Mao-ít và giáo điều như thế mà có đại học tư do Hàn Kiều thành lập và điều hành, một điều rất khó xảy ra ở Việt Nam. Có thể xem đó là một “tiến bộ” hơn Việt Nam?

Tham khảo:

Shelton RD, Lewison G. Scientific collaboration as a window and a donor into North Korea. Scientometrics 29/1/2013.

Bowers K. North Korea: What a terrible state to get into. The New Scientist 29/11/2012.

21 tháng 3, 2013

, ,

Con đường xây dựng các đại học đẳng cấp quốc tế của Trung Quốc

Đại học Liên hợp Bắc Kinh
Có thể dễ dàng nhận thấy một điểm chung giữa các nước đang phát triển khi họ bước vào thời kỳ thịnh vượng nhờ nhanh chóng tăng trưởng kinh tế, là những tham vọng lớn lao về giáo dục và văn hóa, trong đó có cuộc tìm kiếm con đường đưa những trường đại học đang có lên vị trí “đẳng cấp quốc tế”, hoặc xây dựng mới những trường đại học đẳng cấp quốc tế (world class university- WCU). Trung Quốc (TQ) là một điển hình hết sức đáng chú ý đối với Việt Nam, do vai trò đặc biệt của TQ trên thế giới, do sự gần gũi về đặc điểm văn hóa và nhất là chính trị. Bài viết này trình bày tóm tắt quá trình xây dựng và triển khai kế hoạch xây dựng những trường đại học đẳng cấp quốc tế (ĐHĐCQT) của TQ, kết quả của những kế hoạch và nỗ lực ấy, đồng thời thử tìm cách lý giải nguyên nhân. Trong một bài khác, chúng tôi đã nêu lên mô hình ngũ giác bao hàm năm yếu tố cơ bản tạo nên đặc điểm của một trường đại học: những giá trị văn hóa tinh thần, cơ cấu tổ chức và quản trị, nguồn lực, các hoạt động và các thành quả. Con đường xây dựng các ĐHĐCQT của TQ tiêu biểu cho sự lựa chọn nhấn mạnh ba yếu tố sau, tương tự như con đường mà Việt Nam đang đi trong thời gian vừa qua. Do vậy tìm hiểu bài học TQ là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng trường ĐH đạt chuẩn mực quốc tế cho Việt Nam

1. Về quá trình xây dựng ĐHĐCQT của TQ

Vấn đề ĐHĐCQT trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của Nhà nước TQ
 
Không thể phủ nhận quyết tâm hết sức lớn lao của Nhà nước TQ trong việc chủ trương đưa một số trường đại học TQ vào danh sách các đại học hàng đầu thế giới. Họ coi đó là một chiến lược phát triển quốc gia, và điều này thể hiện rõ trước hết trong chính sách của Nhà nước TQ đối với giáo dục đại học.

Về mặt chính sách,Nhà nước TQ coi giáo dục đại học là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình hiện đại hóa TQ. Mọi kế hoạch phát triển của Nhà nước đều nhấn mạnh đến giáo dục ở mọi cấp, từ phổ cập giáo dục tiểu học toàn quốc đến việc xây dựng ĐHĐCQT như là đỉnh cao của hệ thống giáo dục. TQ muốn cạnh tranh với toàn thế giới trong nhiều lãnh vực, và giáo dục đại học là lãnh vực duy nhất mà tiêu chuẩn quốc tế được chính thức dùng làm thước đo cho những thành công ở trong nước. 

Ngay từ thập niên 50, TQ đã có chính sách đầu tư đặc biệt cho một số trường trọng điểm, và từ giữa thập kỷ 90, khi Giang Trạch Dân, sau đó là lãnh đạo của TQ, chính thức nêu rõ quyết tâm chuyển biến các trường đại học TQ, ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học đã tăng hơn gấp đôi, lên tới 10,4 tỷ USDtrong năm 2003.Từ những năm 90, TQ bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng 100 trường đại học chất lượng cao trước khi bước sang thế kỷ 21, với một kế hoạch được gọi là  Dự án 211. Năm 1998 tại lễ kỷ niệm 100 năm Đại học Bắc Kinh, chủ tịch nước tuyên bố TQ cần có những trường đẳng cấp quốc tế, ngay sau đó Dự án 985 ra đời nhằm thực hiện chủ trương này. Năm 2005, sau Hội nghị Quốc tế về ĐHĐCQT do Đại học Giao thông Thượng Hải đăng cai tổ chức, Dự án 111 ra đời để khắc phục chỗ yếu của các trường đại học tinh hoa ở TQ nhằm nhanh chóng đạt vị trí “đẳng cấp quốc tế”.  Nếu như 211 và 985 nhằm nâng cao nguồn lực tài chính để trang bị cơ sở vật chất và trang thiết bị nghiên cứu tối tân cho các trường, thì Dự án 111 chủ yếu để “mua” các tài năng từ nước ngoài đem về các trường đại học TQ nhằm tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích nghiên cứu. Các sáng kiến này chủ yếu nhằm vào các trường hàng đầu với mục đích nâng cao năng lực nghiên cứu để thực hiện tham vọng của TQ trong việc giành ngôi vị đẳng cấp quốc tế. Nhiều lần các quan chức Chính phủ đã phát biểu một cách hiển ngôn niềm hy vọng sẽ đưa một loạt các trường đại học TQ vào hàng ngũ đại học đẳng cấp quốc tế trước năm 2020.

Để thực hiện chính sách ấy, Nhà nước TQ đã chi những khoản tiền khổng lồ cho giáo dục đại học so với tương quan GDP của họ. Từ những năm 50, đã có những trường được coi là “đại học trọng điểm quốc gia” (national key universities). Năm 1954 có 6 trường được gọi là đại học trọng điểm quốc gia, đến năm 1959 thêm 16 trường và 44 trường tính đến năm 1960, rồi một lần nữa danh sách này được bổ sung thêm 4 trường trong năm 1963. Sau cuộc Cách mạng Văn hóa, các trường đại học trọng điểm quốc gia được đặt tên lại, thêm nhiều trường được bổ sung vào danh sách này, tính đến năm 1981, có tất cả là 96 trường như vậy. Các trường trọng điểm quốc gia này được ưu tiên hơn những trường khác trong các chính sách về tài chính. 

Chính sách đầu tư trọng điểm này vẫn tiếp tục và càng lúc càng tăng cường độ. Từ năm 1984, 10 trường đại học được cung cấp tài chính bổ sung từ Dự án Trọng điểm Quốc gia là: Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Phúc Đán, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Giao thông, Đại học Bách khoa TQ, Đại học Y khoa Bắc Kinh, Đại học Remin, Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Đại học Nông nghiệp TQ. Trong những năm cuối của thập kỷ 80, 416 chương trình trọng điểm quốc gia ở 107 trường đã được chọn để hỗ trợ tài chính bổ sung như một phần của Dự án Trọng điểm Quốc gia được gọi là Dự án 211. Để thực hiện dự án này, trước hết Nhà nước Trung Quốc đầu tư 400 triệu nhân dân tệ (khoảng 50 triệu USD) cho những trường được chọn lựa để nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Đồng thời chính quyền địa phương cũng được yêu cầu cung cấp hỗ trợ tài chính cho những trường này. Chẳng hạn, chính quyền đặc khu Thượng Hải đã đóng góp cho Đại học Phúc Đán và Đại học Giao thông Thượng Hải mỗi trường 120 triệu nhân dân tệ (15 triệu USD) năm 1995 để nâng cao chất lượng dạy học và điều kiện nghiên cứu ở cả hai trường. Điều này chứng tỏ mong muốn của các chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ các trường đại học hàng đầu nằm trong khu vực địa phương của mình. Đến năm 1998, khi Dự án 985 ra đời, chỉ 38 trường được hưởng nguồn tài chính từ dự án này. Đại học Bắc Kinh, Đại học Triết Giang, Đại học Phúc Đán, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Nam Kinh, Đại học Bách khoa TQ, Đại học Giao thông Xi’an và Viện Kỹ thuật Harbin là 9 trường đứng hàng đầu trong những trường được sự hỗ trợ mạnh mẽ nhất của Dự án 9851. Dự án này cung cấp cho Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa, hai trường trọng điểm hàng đầu của Trung Quốc một ngân sách trọn gói trong ba năm là 1,8 tỷ nhân dân tệ (234 triệu USD) mỗi trường như một khoản tài trợ đặc biệt nhằm xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. Chính sách tài chính này khiến hệ thống giáo dục đại học TQ phân hóa rõ rệt: chỉ vài mươi trường tinh hoa đang khao khát đạt tới vị trí đẳng cấp quốc tế, và được Nhà nước đầu tư rất mạnh, trong lúc phần lớn sinh viên phải theo học ở những trường đại học cấp tỉnh ở địa phương, các cơ sở giáo dục cho người lớn, đào tạo từ xa qua mạng Internet, và mới đây là các đại học tư, là những trường bị buộc phải xoay trở để tìm nguồn tài chính mà tồn tại. Mong muốn của TQ trở thành đủ sức cạnh tranh với cả thế giới trong nghiên cứu và đào tạo chỉ giới hạn trong một vài trường hàng đầu, kết quả của chiến lược “nhà nghèo, con đông”: Nhà nước chỉ tập trung cho những mũi nhọn với hy vọng tạo được sức mạnh đột phá về thành tích.

Tuy vậy, ngay cả những trường tốt nhất mặc dù đang nhận những khoản tài trợ đặc biệt từ Dự án 985 về Xây dựng ĐHĐCQT, cũng phải tìm kiếm những nguồn tài chính phi Chính phủ cho ngân quỹ hoạt động hàng năm của họ. Những nguồn tài chính hỗ trợ khác gồm có các tài trợ nghiên cứu của Quỹ Tài trợ Khoa học Quốc gia TQ và Quỹ Tài trợ Khoa học Xã hội, mặc dù mức tài trợ của những quỹ này thấp hơn nhiều so với những tổ chức Chính phủ ở Mỹ. Các trường đại học cũng phải tìm kiếm sự hợp tác hỗ trợ của các doanh nghiệp hoặc tổ chức cộng đồng ở địa phương để thực hiện những nghiên cứu ứng dụng cũng như những chương trình giáo dục và đào tạo. Cạnh tranh giữa các trường trong lĩnh vực này khá quyết liệt. Mặc dù nguồn hỗ trợ tài chính dành cho các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đã tăng rất đáng kể từ năm 1999, ngân sách hoạt động hằng năm của họ vẫn nhỏ hơn nhiều so với các trường ĐHĐCQT của phương Tây (ngân sách của Harvard năm 2008 là 2,996 tỷ USD!2)

Không chỉ đầu tư mạnh về tài chính, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường, về mặt tổ chức, Nhà nước TQ đã tiến hành những cải tổ quan trọng. Trong những năm 50, TQ theo mô hình trường đại học chuyên ngành của Xô Viết. Vì hầu hết các trường ĐHĐCQT đều là các trường tổng hợp và bao gồm nhiều chuyên ngành, Chính phủ TQ đã thực hiện tái cấu trúc các trường đại học và coi đó như một nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả của các trường và phục vụ cho việc đầu tư trọng điểm để xây dựng những trường ĐHĐCQT.  Từ năm 1992, đã có hơn 200 trường đại học chuyên ngành được sáp nhập lại thành các trường đại học tổng hợp và đa ngành. Trong quá trình tái cấu trúc, hầu hết các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đều giành được một trường chuyên ngành có chất lượng đỉnh cao như trường y hay một số trường chuyên ngành hẹp khác. Chẳng hạn, Đại học Y khoa Bắc Kinh đã được sáp nhập vào Đại học Bắc Kinh, Đại học Mỹ Thuật Quốc gia đã được sáp nhập vào Đại học Thanh Hoa. 

Bên cạnh việc tái cấu trúc, một nỗ lực đáng chú ý của Nhà nước TQ là việc tiến hành xếp hạng các trường đại học, bao gồm cả xếp hạng quốc gia và xếp hạng quốc tế. Xuất phát điểm của chủ trương này là ý muốn xác định khoảng cách giữa các trường đại học TQ và các trường ĐHĐCQT và tìm hiểu những nhân tố nào đưa một trường đại học lên hàng đẳng cấp quốc tế. Viện Nghiên cứu Giáo dục Đại học của Đại học Giao thông Thượng Hải đã tiến hành thu thập dữ liệu của 500 trường đại học trên toàn thế giới theo những tiêu chí xác định, có thể xác minh được, và tiến hành xếp hạng. Bảng xếp hạng này trở thành rất nổi tiếng và được coi là một trong hai hệ thống xếp hạng quốc tế được biết đến rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Năm 2005 họ đã đưa ra một danh sách xếp hạng hầu như hoàn toàn dựa trên những sản phẩm và kết quả nghiên cứu của các trường. TQ cũng đứng ra tổ chức Hội thảo Quốc tế về WCU năm 2005 tập hợp hàng trăm nhà khoa học trên toàn thế giới để bàn về chủ đề này.

Ngoài xếp hạng quốc tế, TQ còn thực hiện xếp hạng quốc gia. Từ giữa thập kỷ 90, việc xếp hạng các trường đại học trở thành một hiện tượng phổ biến ở TQ. Có năm chương trình xếp hạng có ảnh hưởng mạnh, trong đó có 4 là xếp hạng trường. Kết quả xếp hạng được coi là một nguồn thông tin quan trọng đối với sinh viên và phụ huynh. Các trường đại học và Chính phủ cũng hết sức quan tâm chú ý tới việc xếp hạng. Dù có nhiều trở ngại trong vấn đề xếp hạng các trường đại học ở TQ, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới sự sẵn sàng và độ tin cậy của dữ liệu, kết quả xếp hạng cũng đem lại cho sinh viên một ý niệm đại khái về địa vị của mỗi trường đại học. 

Về mặt quản lý, Bộ Giáo dục TQ tuy không còn giữ lề lối hoạt động trong một xã hội được điều khiển bằng mệnh lệnh như trước đây, nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát những nhân tố chính của giáo dục đại học, như giảng viên và số lượng sinh viên mỗi ngành học, mức thu học phí, việc bổ nhiệm các chức vụ quản lý lãnh đạo cao cấp. Tuy vậy, trong bộ khung hành chính quan liêu này, các trường đại học cũng có quyền tự chủ nhiều hơn trong việc quyết định nội dung chương trình đào tạo, thành lập những viện nghiên cứu mới, thay đổi cơ cấu tổ chức nhà trường, và xác lập những ưu tiên về tài chính.

Chiến lược xây dựng trường ĐHĐCQT của các trường đại học TQ

Tuyển dụng nhân sự trên phạm vi toàn cầu và tăng cường quốc tế hóa:  
Các trường đại học TQ hiểu rõ con người là nhân tố quyết định cho thành công của một trường đại học. Họ không có đủ sức mạnh tài chính để lôi cuốn được những giáo sư đẳng cấp quốc tế với số lượng đủ để đảm bảo cho hoạt động của một trường, thay vào đó, họ có chủ trương rất rõ ràng nhằm thu hút những trí thức Hoa kiều và những người TQ được đào tạo từ các nước phương Tây. Các trường đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải đặc biệt thành công trong việc thu hút những người học ở nước ngoài trở về nhận những vị trí nghiên cứu và giảng dạy. Có khi họ trở về ở hẳn TQ, có khi họ thương lượng một chế độ qua lại thường xuyên cho phép họ duy trì cương vị của họ ở phương Tây trong lúc bỏ ra nhiều tháng mỗi năm làm việc tại TQ.  

Nếu những người TQ được đào tạo ở phương Tây có thể có nhà ở, xe cộ, những phương tiện văn hóa và trường học tốt cho con cái họ, thì trở về TQ không còn là một sự hy sinh như trong quá khứ. Dùng những người trở về này thay cho các chuyên gia nước ngoài cũng sẽ thích hợp hơn với mục tiêu của TQ trong việc tự lực và tăng sức cạnh tranh dài hạn. Mặc dù chi phí của các đại học TQ tăng cao vì mức lương của những người trở về này phải đủ sức cạnh tranh quốc tế, trong những lĩnh vực được ưu tiên cao (đặc biệt là trong khoa học và kỹ thuật), sự đầu tư này được coi là thiết yếu để tạo ra những chương trình giảng dạy và nghiên cứu với những phương pháp và lý thuyết tối tân nhất. Thêm vào đó, cơ sở vật chất mới cũng tạo điều kiện cho các trường đại học TQ tuyển mộ giảng viên và cán bộ nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu, nhất là các khoa học gia người TQ có bằng tiến sĩ ở châu Âu.  

Để tăng cường tính chất quốc tế hóa, TQ cũng đang nỗ lực để trở thành thỏi nam châm thu hút sinh viên nước ngoài, thường là từ các quốc gia châu Á, chứ không chỉ quan tâm đến việc gửi nhân tài của họ sang phương Tây. Mục tiêu của họ là 100,000 sinh viên nước ngoài đến học tại TQ trong một tương lai gần. Mặc dù các trường đại học TQ vẫn tiếp tục đưa ra những chương trình học ngắn hạn về ngôn ngữ và văn hóa cho người nước ngoài, phần lớn là người Mỹ, ngày càng có nhiều trường đào tạo sinh viên nước ngoài cả trong những ngành học khác và cấp bằng chính quy cho họ. Với quyết tâm xác định vị trí của mình một cách tích cực trong bối cảnh toàn cầu, các trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở TQ rất thiết tha với các hoạt động hợp tác quốc tế. Đã có nhiều thành công đạt được trong những chương trình trao đổi sinh viên và liên kết đào tạo. Nhiều trường đang có những tiến bộ vượt bậc trong việc thu hút sinh viên quốc tế và xây dựng những chương trình hợp tác nghiên cứu. Họ đang cố gắng vận dụng những tiêu chuẩn đánh giá có tính chất quốc tế đối với đội ngũ giảng viên của mình cũng như đối với các chương trình đào tạo.

Đầu tư mạnh vào phòng thí nghiệm và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu
Các trường đại học TQ rất chú trọng nghiên cứu và đào tạo về khoa học kỹ thuật, đầu tư các nguồn quỹ mà họ có quyền chủ động sử dụng vào việc xây dựng những phòng thí nghiệm mới với những thiết bị kỹ thuật tối tân. Việc cộng tác với các đại học nước ngoài là một cách đã được thử thách qua thời gian để các đại học TQ khởi động những chương trình nghiên cứu ở trình độ quốc tế. 

Năm 1986, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đầu tiên được xây dựng tại Đại học Bắc Kinh. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của các đại học nghiên cứu cùng với khoản tài trợ nghiên cứu và phát triển cho các phòng thí nghiệm được Nhà nước Trung ương hỗ trợ và đặt tại các trường đại học, và việc các nghiên cứu của trường đại học được xem như một bộ phận của hệ thống nghiên cứu khoa học cơ bản của quốc gia. Ý tưởng thành lập các phòng nghiên cứu trọng điểm của quốc gia và đặt tại các trường đại học thực ra là học tập từ mô hình của các trường đại học nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, chủ trương tài trợ của Nhà nước Liên bang Hoa Kỳ đối với việc nghiên cứu của các trường đại học đã ảnh hưởng mạnh đến việc cải cách hệ thống nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc.Ví dụ phổ biến nhất là Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley,  Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, và Phòng Thí nghiệm Quốc gia Los Alamos tại hệ thống đại học California. Trong lúc các phòng thí nghiệm quốc gia tại các trường đại học Trung Quốc hầu hết dựa trên cơ sở chuyên ngành nhằm mục đích tạo ra các trung tâm chất lượng cao trong từng lĩnh vực, sự thành lập của những phòng thí nghiệm ấy biểu hiện niềm hy vọng các trường đại học Trung Quốc rồi đây sẽ có được những phòng nghiên cứu giống như những phòng nghiên cứu mà Đại học California đang có. 

Dựa trên những thông tin của Mạng lưới Nghiên cứu và Giáo dục Trung Quốc, đến năm 2002 đã có 91 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tại các trường đại học hàng đầu. Hiện nay chỉ riêng Đại học Bắc Kinh đã có 13 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia như thế, những công trình nghiên cứu tại đó gắn chặt với những vấn đề khẩn thiết nhất của quốc gia trong việc phát triển.

Xây dựng các trường đại học nghiên cứu và coi nghiên cứu như là một chức năng chính ở các trường trọng điểm khác. 
Trong thập kỷ 50, TQ áp dụng mô hình Xô Viết về việc thành lập các viện nghiên cứu độc lập và nằm ngoài trường đại học, kể cả Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia TQ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội TQ, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp. Những viện hàn lâm này có hàng trăm viện nghiên cứu bao gồm tất cả các lãnh vực chuyên ngành. Cho đến thập kỷ 80, hầu hết các hoạt động nghiên cứu ở TQ đều được thực hiện ở các viện nghiên cứu độc lập này, còn nhiệm vụ chính của các trường đại học chỉ là giảng dạy. Chủ trương xây dựng ĐHĐCQT khiến Nhà nước TQ phải xem lại điều này. Không phải ngẫu nhiên mà hệ thống tiêu chí xếp hạng quốc tế của SJTU rất xem trọng thành quả nghiên cứu của các trường. Thành tích nghiên cứu hiển nhiên là tác động trực tiếp tới uy tín của nhà trường, hiển nhiên là tác động tới trình độ phát triển của quốc gia, và chắc chắn có ảnh hưởng tích cực đối với việc giảng dạy và đào tạo. Vì vậy những trường đại học hàng đầu và được đầu tư trọng điểm ở TQ để đạt đẳng cấp quốc tế đều xác định rõ định hướng nghiên cứu của mình. Quỹ Khoa học Quốc gia TQ thành lập năm 1986 đã mang lại cho các trường đại học TQ cơ hội cạnh tranh các nguồn tài trợ dành cho việc nghiên cứu. Việc dựa trên những sáng kiến nghiên cứu của Bộ Khoa học Công nghệ và các bộ khác trong Chính phủ TQ trong thập kỷ 80 và 90 cũng tạo cho các trường đại học TQ thêm nhiều cơ hội quan trọng. Đồng thời, bản thân các trường đại học khác cũng bắt đầu chú trọng hơn đến công tác nghiên cứu, vì nghiên cứu đã được thừa nhận là một chức năng trọng yếu của nhiều trường đại học ở TQ. Nhà nước TQ tiến hành phân loại đại học nghiên cứu loại 1, loại 2, v.v…căn cứ vào tỷ lệ sinh viên cao học, và những trường được phân loại là đại học nghiên cứu được cấp kinh phí cao hơn. Các giáo sư ở những trường hàng đầu TQ đang dành thời gian cho nghiên cứu nhiều hơn là giảng dạy. Một số lớn các giáo sư và phó giáo sư chẳng hề dạy một môn nào ở bậc đại học. Để nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học, Bộ Giáo dục thậm chí đã phải ban hành một hướng dẫn năm 2003 yêu cầu các giáo sư và phó giáo sư phải tham gia giảng dạy ở bậc đại học. 

Sự thành công của các trường đại học nghiên cứu Hoa Kỳ đã được công nhận là một khuôn mẫu cho giáo dục đại học trên toàn thế giới. Ở thập kỷ 80 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế  thậm chí đã bắt đầu thảo luận về mô hình hệ thống nghiên cứu khoa học của Hoa Kỳ. Mô hình Hoa Kỳ có một tác động rất lớn đối với hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc. Từ năm 1978, hàng ngàn giảng viên và sinh viên Trung Quốc đã đổ xô vào Hoa Kỳ vì họ quan tâm đến giáo dục và tri thức bậc cao. Rất nhiều hội thảo và ấn phẩm tập trung vào các trường đại học nghiên cứu Hoa Kỳ: họ đã hoạt động như thế nào và chúng ta có thể học tập ở họ những gì. Kinh nghiệm Hoa Kỳ đã trở thành cội nguồn cho rất nhiều ý tưởng về cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc, trong đó có ý tưởng về xây dựng các trường đại học nghiên cứu.

2- Những kết quả mà TQ đã đạt được

Thành tựu
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đại học tại TQ và sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ của Chính phủ TQ, các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đang có những bước đi quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của họ và tạo ra những tiến bộ rất đáng kể nhằm đạt mục tiêu chiến lược của họ là trở thành những trường ĐHĐCQT.

Trong khoảng từ năm 2000 đến 2005, số lượng công bố khoa học của các trường đại học nghiên cứu hàng đầu trong danh mục SCI đã tăng gấp đôi. Đại học Thanh Hoa đã có khoảng 2700 bài báo được liệt kê trong danh mục SCI năm 2003, gần bằng con số của các trường hàng đầu thuộc top 50 của thế giới. Các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ cũng đã bắt đầu nhấn mạnh đến chất lượng của các công bố khoa học bằng cách khen thưởng những bài báo có tỉ lệ được trích dẫn cao hoặc xuất hiện trên những tạp chí chuyên môn danh tiếng. Xu Tian, nhà nghiên cứu di truyền học hàng đầu được đào tạo tại Đại học Yale và hiện nay vẫn đang dạy tại đó, phụ trách một phòng thí nghiệm ở Đại học Phúc Đán nơi tiến hành những nghiên cứu về biến đổi gene. Ngày 12 tháng 8 năm 2005, nghiên cứu có tính đột phá của ông đã được nêu trên trang bìa của tờ tạp chí nghiên cứu uy tín lừng lẫy- Tạp chí Nghiên cứu Các Tế bào- lần đầu tiên một khoa học gia TQ có vinh dự ấy!

Số giảng viên có bằng tiến sĩ đã đạt đến 50% ở các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ tính đến năm 2005 và hy vọng sẽ đạt đến 75% trước năm 2010. Những trường này cam kết nâng cao số giảng viên có bằng tiến sĩ từ các trường ĐHĐCQT. Các nhà quản lý của Đại học Bắc Kinh ước lượng khoảng 40% cán bộ giảng dạy của họ được đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu là ở Mỹ. 

Thêm vào đó, họ còn nỗ lực đặc biệt để lôi cuốn các giáo sư đẳng cấp quốc tế bằng nhiều cách. Trường Đại học Bắc Kinh đã lôi kéo được tài năng của Tian Gang- một nhà toán học hàng đầu của MIT, trong việc xây dựng một trung tâm nghiên cứu quốc tế về toán cao cấp trong số các trung tâm nghiên cứu trình độ cao khác. 

Tỉ lệ của học viên sau đại học (kể cả các khóa học chuyên môn) với sinh viên đại học vẫn còn ở mức 1:1. Các trường đại học đang phải đấu tranh với việc nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, đặc biệt là năng lực sáng tạo và đổi mới của một bộ phận nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nghiên cứu sinh tiến sĩ thường được yêu cầu có bài đăng trên tạp chí quốc tế trước khi có thể bảo vệ luận án.

Nhìn rộng ra cả hệ thống, chỉ trong vòng một thế hệ, kể từ năm 1978, TQ đã đưa tỉ lệ những người trong độ tuổi vào đại học từ 1,4% lên đến 20%. Chỉ riêng trong lãnh vực kỹ thuật, TQ tạo ra 442,000 cử nhân hằng năm, cùng với 48,000 người hoàn tất bằng thạc sĩ và 8,000 người đạt học vị tiến sĩ.

Tuy vậy, cho đến nay chỉ có Trường Đại học Bắc Kinh và một vài trường hàng đầu của TQ là được thế giới công nhận là có chất lượng cao. Tiêu chí số lượng bài báo khoa học trong danh mục SCIE và SSCI tính trên đầu người được đưa ra nhằm phản ánh hiện tượng cạnh tranh quốc tế ngày càng phát triển và đặt TQ trong một bối cảnh có tính chất quốc tế. Con số thấp nhất về tỉ lệ công bố khoa học trên đầu người trong số 60 trường thành viên của Hiệp hội Các trường Đại học Hoa Kỳ được chọn làm tiêu chuẩn cho TQ, chỉ số này được xác định là 0,7 trong năm 2004. Chỉ có 10 trường đại học TQ có được chỉ số này ở trên mức tối thiểu của Hoa Kỳ.

Khoảng cách, và những thử thách đang đặt ra
Trong bảng xếp hạng quốc tế của SJTU năm 2005, không một trường đại học TQ nào lọt vào danh sách 200 trường hàng đầu trên thế giới. Chỉ có 8 trường đại học TQ lọt vào danh sách 500 trường hàng đầu. Vị trí cao nhất mà các trường đại học TQ đạt được là trong khoảng 151 đến 2003. Còn trong bảng xếp hạng THES cùng năm, Đại học Bắc Kinh được xếp thứ 15, và chỉ có 5 trường đại học TQ nằm trong top 200 mà thôi. Ba năm sau, trong bảng xếp hạng năm 2008 cũng của SJTU thực hiện với cùng phương pháp và tiêu chí, vẫn không có tên một trường đại học nào của Trung Quốc trong danh sách 200 trường hàng đầu. Năm trường lọt vào thứ hạng cao nhất từ 152-200 là Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa,  Đại học Nam Kinh, Đại học Giao Thông Thượng Hải, Đại học Chiết Giang, Shanghai Jiao Tong University, tức là không có bước tiến nào đáng kể so với kết quả xếp hạng năm 2005. Trong bảng xếp hạng THES năm 2008, chỉ có 2 trường đại học TQ lọt vào danh sách 100, nhưng lại tụt hạng so với chính họ: Đại học Bắc Kinh xếp hạng 50 năm 2008 trong lúc được xếp hạng 36 năm 2007, hạng 14 năm 2006. Mặc dù giới khoa học quốc tế gièm pha, chê bai cả hai hệ thống xếp hạng này vì những đánh giá không thỏa đáng về chất lượng, nhưng các trường đại học TQ thì nhìn vấn đề này một cách nghiêm túc như là một chỉ số cho thấy vị trí cạnh tranh của họ.  Họ biết rằng phải mất một thế hệ hoặc hơn nữa để các trường đại học TQ có thể có chất lượng thực sự ngang bằng với những trường của Âu Mỹ. Các học giả TQ không phải là không có lý khi nghĩ như vậy, vì mặc cho mọi khác biệt về phương pháp và kỹ thuật, vẫn có một sự đồng thuận rất cao giữa hai hệ thống xếp hạng về 12 vị trí đầu tiên của bảng xếp hạng, điều này cho thấy uy tín của các trường ĐHĐCQT là một thực thể  thực sự tồn tại khách quan và đo lường được. 

Điểm phân biệt chủ yếu giữa các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ và các trường đại học đẳng cấp quốc tế là chất lượng của giảng viên và nghiên cứu, được thể hiện qua số cán bộ khoa học đoạt được các giải thưởng khoa học quốc tế chính, qua số lượng tác giả được nhiều nhà khoa học khác nêu trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, qua số lượng cán bộ giảng viên được đào tạo bậc tiến sĩ ở các trường đại học đẳng cấp quốc tế, qua số lượng các bài báo khoa học được công bố quốc tế, và qua một số nhân tố khác nữa. 

Các trường ĐHĐCQT có trung bình 4,4 giảng viên đoạt giải Nobel và Huy chương của ngành, có trung bình 56 nhà nghiên cứu được nhiều người trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, trong lúc không một trường đại học nào ở TQ có được một cán bộ khoa học đạt giải Nobel hoặc Huy chương Field. TQ cũng thiếu những tác giả được nhiều người trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu.4

Hơn 85% giảng viên tại các trường đại học đẳng cấp quốc tế có bằng tiến sĩ do các trường thuộc top 100 trên toàn thế giới cấp, trong lúc con số này chỉ là 10% ở các trường đại học TQ hàng đầu như Đại học Thanh Hoa hay Đại học Bắc Kinh5. Số trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo khoa học trong Danh mục Trích dẫn Khoa học- SCI vào khoảng từ 2 đến 3 đối với các đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ như Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh, so với 25 ở Harvard 6.

Sự kiểm soát của Nhà nước đối với các trường đại học TQ đang giảm đi. Tuy vậy Nhà nước TQ vẫn giữ ảnh hưởng mạnh mẽ thông qua việc phân bổ nguồn lực, chuẩn thuận chương trình đào tạo, đánh giá dự án, và vô số các buổi họp hành. Vẫn còn một chặng đường rất dài để các trường đại học TQ có thể đạt được sự mở rộng quyền tự chủ. Vì năng lực đổi mới kỹ thuật của công nghệ TQ rất yếu kém, Nhà nước khuyến khích các trường đại học nghiên cứu phục vụ việc phát triển kinh tế của quốc gia. Phần lớn các nghiên cứu thực hiện ở TQ là nghiên cứu ứng dụng và tuyệt đại đa số là có liên quan đến phát triển công nghệ.  Nghiên cứu cơ bản vẫn còn là một thứ xa xỉ đối với các trường đại học nghiên cứu ở TQ.

Chỉ có một số rất nhỏ các giáo sư đại học thực hiện việc nghiên cứu vì những mối quan tâm thuần túy khoa học. Phần lớn họ dạy học và làm nghiên cứu như một cách để kiếm sống. Chất lượng giảng viên, tiêu chí đề bạt, và quy trình đánh giá còn rất xa so với ước muốn xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế. Vì vậy, cải cách triệt để, tận gốc rễ là một điều hết sức thiết yếu.

Bên cạnh đó, cuộc cạnh tranh giữa Viện Hàn lâm Khoa học TQ và các trường đại học đang ngày càng mạnh mẽ. Viện Hàn lâm được bảo đảm quyền cấp bằng sau đại học, và mục đích của họ là đạt được 50.000 nghiên cứu sinh trước năm 2020. Hơn nữa, họ còn có ngân sách bổ sung do Nhà nước Trung ương cấp bên cạnh ngân sách hoạt động thường xuyên. Bởi vậy khả năng cạnh tranh của họ trong những khoản tài trợ nghiên cứu chính và đáp ứng nhu cầu của đất nước sẽ tăng lên. 

Dù các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đang tìm cách trở thành đại học đẳng cấp quốc tế, họ đang chú ý nhiều hơn đến cạnh tranh trong nước thay vì cạnh tranh quốc tế để duy trì vị thế hiện tại và giành các nguồn lực cần thiết, điều này làm giảm sự tập trung trong những nỗ lực cạnh tranh quốc tế của họ. 

3- Bài học Trung Quốc

Qua con đường của TQ và những thành tựu mà họ đạt được đã nêu tóm tắt trên đây, có thể nói, nhờ Nhà nước TQ có chính sách đẩy mạnh giáo dục đại học, TQ đã tiến một bước rất dài trong việc đại chúng hóa giáo dục đại học, và đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. Tuy nhiên, kể từ khi Chính phủ TQ chính thức tuyên bố tham vọng có được những trường đại học đẳng cấp quốc tế vào năm 1998 đến nay, mười năm đã trôi qua cùng với những khoản đầu tư khổng lồ, khoảng cách của các trường đại học hàng đầu của TQ với những trường đẳng cấp quốc tế vẫn còn rất xa. 

Năm 2005, Tạp chí McKinsey đã thực hiện một nghiên cứu về thị trường lao động TQ và kết luận, thật nghịch lý là TQ có hàng triệu người tốt nghiệp đại học nhưng lại thiếu nhân tài. Diana Farrell và Andrew J. Grant ước lượng chỉ khoảng 10% các kỹ sư trẻ người TQ có những kỹ năng thích hợp cho công việc trong các doanh nghiệp đa quốc gia; số còn lại không có đủ kỹ năng ngôn ngữ và những hiểu biết văn hóa cần thiết để thực hiện chức phận của mình trong những công việc có tính cạnh tranh cao. Truyền thống giáo dục của TQ là một trong những thủ phạm gây ra vấn đề này. Điển hình là lối dạy thuần túy thuyết giảng và lối học ghi nhớ: các giáo sư thường đòi hỏi sinh viên phải nhớ bài giảng và những nội dung trong sách giáo khoa rồi lặp lại trong các bài thi thay vì phải phát triển sự hiểu biết thấu đáo và tinh thần sáng tạo. Đã vậy, sinh viên ngành kỹ thuật còn phải chịu đựng những chương trình đào tạo đã quá lạc hậu. Có rất ít cơ hội làm việc cùng nhau, cũng như không có dịp cho họ trải nghiệm thế giới thực, và những vị trí thực tập thì không đủ cho tất cả mọi người. Đặt những nhân tố này cùng nhau, các nhà phân tích McKinsey kết luận rằng TQ sẽ không thể chuyển sang công nghiệp dịch vụ trong thập kỷ tới và như vậy cũng không thể cạnh tranh ở mức toàn cầu về công nghệ kỹ thuật cao trong tương lai gần7. 

Hiển nhiên là các học giả TQ biết rõ họ phải nỗ lực đẩy mạnh cải cách và tư duy phê phán. Một số trường hàng đầu đã xây dựng chương trình giáo dục tổng quát ở bậc đại học nhằm đem lại cho sinh viên một nền tảng kiến thức rộng rãi hơn, mặc dù những nỗ lực này chưa đủ để đem lại những kết quả mong đợi vì bị cấy ghép vào một hệ thống thi cử khắt khe và cứng nhắc, một hệ thống vẫn còn đang ban thưởng cho sự học vẹt! Điều này chắc chắn cũng sẽ phải thay đổi trong một vài năm tới đây.  

Đó là nói về giáo dục đại học TQ nói chung, còn nói riêng về giấc mộng ĐHĐCQT của TQ, thì lý do chính khiến TQ chưa thể lọt vào danh sách các trường hàng đầu trên thế giới là do TQ thiếu những tài năng đỉnh cao trong khoa học cơ bản đủ để sánh bằng thành tích của các trường ĐHĐCQT. Một số nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các trường tỏ ra hết chịu đựng nổi cuộc tranh luận vẫn đang tiếp diễn về vấn đề ĐHĐCQT. Người ta bắt đầu nhận ra rằng xây dựng một ĐHĐCQT là một quá trình lâu dài chứ không phải là kết quả tức thời của một ước muốn và một số tiền đầu tư “một cục” khổng lồ. Thực ra, nhiều người thậm chí còn hoài nghi về khả năng liệu TQ có thể thực sự xây dựng được một ĐHĐCQT hay không, bởi vì những trường được công nhận rộng rãi là một mẫu mực về ĐHĐCQT như Oxford ở Anh hay Harvard và Yale ở Hoa Kỳ đều đã phải trải qua hàng thế kỷ phát triển. Chẳng những thế, những trường này đều đã rất tiến triển trong một môi trường chính sách khác và hình thức khác của cơ cấu quản lý đại học.

Thử đi tìm nguyên nhân
Nhà nước TQ và giới học giả, giới quản lý giáo dục đại học có một quyết tâm hết sức to lớn trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, và đã dành nhiều nguồn lực tài chính lớn lao cho kế hoạch này, nhưng dường như kết quả đạt được vẫn chưa được như họ mong đợi. 

TQ đang tập trung vào khoa học tự nhiên và kỹ thuật, những lĩnh vực phản ánh nhu cầu phát triển của quốc gia, nhưng đồng thời cũng phản ánh sự thiên vị của một hệ thống chính trị độc tài vốn ngăn cấm những phát biểu tự do. Khoa học xã hội và nhân văn thường liên quan tới những ý tưởng phê phán về chính trị, kinh tế và lịch sử. Nhà nước ít nhấn mạnh đến việc đạt đẳng cấp quốc tế trong những môn này. Tuy vậy, nhiều người TQ cũng nhận định –thường là một cách gián tiếp- rằng việc hạn chế những cuộc tranh luận khoa học có thể cản trở những nỗ lực tạo ra các trường ĐHĐCQT.

Lin Jianhua, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bắc Kinh nhận định: “Hiện nay, tôi cho rằng chẳng có trường đại học nào ở TQ có một bầu không khí có thể so sánh được với các trường đại học lâu đời ở phương Tây- Harvard hay Oxford- về mặt tự do diễn đạt ý tưởng” (…)Chúng ta cố gắng đem lại cho sinh viên một môi trường tốt hơn, nhưng để có thể làm được điều đó, cần có thời gian. Không phải là 10 năm, mà là một hay hai thế hệ”8. 

Ge Jianxiong, một nhà địa lý lỗi lạc ở Đại học Phúc Đán, nói rằng văn hóa Trung Hoa đòi hỏi những kết quả nhanh chóng, điều này có thể xói mòn việc nghiên cứu. “Ở TQ, các dự án thường ngắn hạn, thông thường là 3 năm. Sau đó người ta đòi hỏi phải có các ấn phẩm đồ sộ. Trong những cuộc nghiên cứu thực sự, cần phải cho các nhà khoa học sự tự do cần thiết để có được kết quả tốt, chứ không chỉ là kết quả mà người ta muốn”. Trong khi đó, cơ chế bảo đảm quyền tự do học thuật ở phương Tây cho phép một nhà khoa học có thể chẳng có một bài nghiên cứu nào được công bố trong hàng chục năm, để rồi đến năm thứ mười chẳng hạn, thì công bố một bài báo đưa ra cách giải quyết cho những câu hỏi đã tồn tại hàng trăm năm nay mà chưa có lời đáp!

Ge bổ sung thêm những khó khăn của giáo dục khi nó luôn luôn được coi là công cụ của chính trị. Điểm yếu lớn nhất, như nhiều nhà khoa học TQ đã cho biết, là sự thiếu vắng tự do học thuật. Yang, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Phúc Đán, cảnh báo rằng nếu không xây dựng được một bầu không khí đúng đắn, những bộ óc vĩ đại ở nước ngoài có thể sẽ chỉ đến TQ một hay hai năm là tìm đường rút vì bực bội. 

Gong Ke, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thanh Hoa, nói rằng các trường đại học “có bổn phận bảo đảm cho tự do học thuật”. 

"Chúng tôi có những giáo sư dạy ở đây, người nước ngoài, đang dạy rất khác với quan điểm của chính phủ TQ”. Ông nói thêm: “Có những người phê phán mạnh chính sách kinh tế của TQ”. 

Điều cần nhất bây giờ, như các nhà khoa học giỏi nhất của TQ nói, và nhấn mạnh, là những bộ óc độc đáo. 

Điều vĩ đại nhất mà TQ đã làm được trong 20 năm qua là đưa 200 triệu người thoát cảnh đói nghèo. Xu nói: “Tuy vậy, TQ vẫn chưa nhận ra rằng nếu muốn tiến lên một trình độ mới, thì phải hiểu rằng các con số là không đủ. Chúng ta cần một cuộc cách mạng mới để đưa chúng ta ra khỏi nền văn hóa mà giải thưởng là trở thành quan chức Nhà nước. Chúng ta phải học cách ban thưởng cho những đổi mới thực sự, cho những tư tưởng độc lập, và những công trình học thuật chính cống!”9

Phải chăng tình trạng thiếu vắng tự do học thuật là nguyên nhân khiến các trường hàng đầu ở TQ chưa thể đi xa hơn được, dù quyết tâm của Chính phủ rất lớn và đầu tư cũng không nhỏ? Liệu điều này có thể giải thích những hạn chế của hệ thống giáo dục đại học TQ, khi tự do học thuật không phải là vấn đề đối với các bộ môn khoa học kỹ thuật và ứng dụng, những lĩnh vực mà Nhà nước TQ rất khuyến khích?

Có lẽ câu trả lời phải tìm không chỉ trong những nhân tố về thể chế, mà còn trong những nhân tố văn hóa. Nền giáo dục TQ chưa bao giờ thoát ly hoàn toàn truyền thống Khổng giáo, nơi người ta đi học là để tiếp thu những chân lý có sẵn của thánh hiền, chứ không phải để thử thách hay cọ xát với những tri thức đã có. Điều này tất nhiên ảnh hưởng lớn đến phương pháp dạy và học trong nhà trường và không khuyến khích tinh thần phản biện, tinh thần tự do sáng tạo, là những nhân tố cốt yếu của đời sống đại học, và là những nhân tố quyết định đối với năng lực nghiên cứu.

4- Kết luận

Thực tiễn xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở Trung Quốc cho chúng ta thấy quyết tâm của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó giúp mang lại những nguồn lực cần thiết cho các trường để thực hiện nâng cao chất lượng hoạt động. Tuy nhiên, chỉ nguồn lực thôi thì không đủ để tạo ra được những thay đổi mong đợi. TQ đã đi từ Dự án 211 đến Dự án 985 theo hướng tập trung tăng cường nguồn lực tài chính cho một số ít trường trọng điểm, rồi lại tiếp tục đến dự án 111 theo hướng “mua” người tài từ bên ngoài về để tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích nghiên cứu, nhưng kết quả vẫn không được như họ mong muốn, bởi vì đó vẫn chỉ là những giải pháp đắp vá. Phải chăng TQ đã nhắm đến những nhân tố bề ngoài, những thứ ở phần ngọn, những biểu hiện của kết quả hoạt động chẳng hạn số lượng công bố khoa học và trích dẫn, thay vì phải nhắm vào những nhân tố bên trong, những thứ có ý nghĩa cốt lõi và là nguyên nhân của thành công, chẳng hạn những chính ách thực sự giải phóng năng lực của con người? Phải chăng những chính sách ấy chính là điều mà TQ cần, để tạo ra một tầng lớp trí thức có thể sáng tạo ra những giá trị tinh thần thực sự, vì chỉ với những giá trị ấy, trường đại học mới thực sự là nơi kiến tạo tri thức, vun trồng tài năng và thực hiện được sứ mệnh của nó? Xét cho cùng, thứ hạng trong bảng xếp hạng chỉ quan trọng nếu nó phản ánh được mức độ đạt được sứ mạng mà một trường đại học phải thực hiện. Đó là sứ mạng làm động lực thúc đẩy sự phát triển của từng cá nhân, của cả cộng đồng, của từng quốc gia và sau hết là sự tiến bộ của toàn thể nhân loại.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1 Nian Cai Liu, 2005. Research Universities in China: Differentiation, Classsification, and Future World-Class Status
2 Nguồn: QS Quacquarelli Symonds (www.topuniversities.com) 
3Institute of Higher Education, Shanghai Jiao Tong University 2005. Academic ranking of world universities-2005.http://ed.sjtu.edu.cn/ranking.htm.
4 Cheng, Y., S. X. Liu. 2005. When will Chinese universities be able to become world – class? Journal of Higher Education 26 (4) : 1-6
5 Jiang, Y., P. 2004. The origins of doctoral degrees of faculty members in world-class universities. Jiangsu Gaojiao no. 4: 106-09.
6 Nian Cai Liu, 2005. Bài đã dẫn
8 Howard W. French 2005. Nguồn: The International Herald Tribune, 27 October 2005
9 Howard W. French 2005. Bài đã dẫn
Nguồn: Tia Sáng