Xin giới thiệu loạt bài viết với chủ đề về Việt Nam của tuần báo Time từ buổi đầu của cuộc chiến tranh lạnh nằm trong văn khố lưu trữ của tạp chí. Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam cho đến nay, có tất cả 62 bài viết đăng trang bìa (cover story) về Việt Nam. Ở đây chỉ xin chọn lọc giới thiệu những bài báo nói về tình hình chính trị của hai miền Nam Bắc trong cuộc chiến.
MẢNH ĐẤT VỚI NIỀM VUI KHIÊN CƯỠNG
Số báo ra ngày 22 tháng Mười một 1954
Tại Hà Nội, những lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh được treo trên các cửa hàng và nhà kho, trên những túp lều và dinh thự, từ những chiếc xích lô chạy như bắn dọc theo những đại lộ vắng người. Chân dung của Malnkov, Mao và Hồ trông ra từ những quầy hàng rong. Ở những ngã tư chính là những cổng chiến thắng bằng tre, được trang hoàng với chim bồ câu hoà bình cắt bằng giấy và những khẩu hiệu tuyên bố "ĐỘC LẬP", "HOÀ BÌNH", "HỒ CHỦ TỊCH MUÔN NĂM." Không một cuộc biểu tình đối lập nào được cho phép tại Hà Nội đang vui mừng; không ai quên việc phải bộc lộ sự phấn khởi của mình, cũng chẳng ai dám lười biếng mà không chịu tham gia.
Hà Nội, thủ đô của mảnh đất mới Bắc Việt Đỏ, đã không còn bóng những kẻ ăn mày và trẻ đánh giày. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa phát động một "phong trào đạo đức tốt," vì thế không còn gái điếm, không còn quán nhảy. Vào 3 giờ chiều mỗi ngày nhân dân cùng hát những bài ca yêu nước và tổ chức nhóm thảo luận. Mỗi tối họ ca múa trên đường phố dưới cái nhìn vô cảm của những người lính Việt Minh; điệu múa bắt đầu vào đúng 8 giờ, không bao giờ sớm hơn, và chấm dứt lúc 10 giờ, không bao giờ trễ hơn. Hai lần mỗi tuần tại Nhà hát Quốc gia Hà Nội, trước những khán giả gồm những người đàn ông mặc áo khoác nhàu nát và những nữ cán bộ tóc thắt bím, những "Đội Văn hoá" của quân đội Việt Minh biểu diễn những bài ca vè trong giai điệu ré lên từ những nhạc cụ. "Gạt đi những giòng nước mắt," họ cất giọng. "Kẻ thù đã không còn. Cả miền Bắc, miền Nam chúng ta đều là một nhà và không gì có thể chia rẽ chúng ta."
Tuyên Truyền & Kỷ Luật
Ở Hà Nội vẫn có một cảm giác đợi chờ mệnh lệnh ban xuống. Những người đàn ông với loa tay không ngừng tuyên truyền Tám Điều Dạy về Chính Trị của Hồ Chủ Tịch ("Những người tu hành phải thực hiện nghĩa vụ công dân"), Năm Điều Kỷ Luật của Hồ Chủ Tịch ("Báo chí phải hỗ trợ chính sách hoà bình"), và Mười Điều Kỷ Luật của Quân Đội Việt Minh ("Chiến sĩ không được trụy lạc"). Ngày nọ những người cầm loa đã ra lệnh cho dân Hà Nội vặn ngược đồng hồ lại một giờ để trùng với múi giờ của Bắc Kinh.
"Họ Theo Dõi Anh Đang Làm Gì"
"Việt Minh đã làm đúng," một trong hàng triệu cán bộ Việt Minh đã nói như thế, ông vừa đào thoát sang phương Tây. "Họ không hà hiếp phụ nữ. Họ không cướp bóc. Nếu hôm nay họ mượn một cốc nước, ngày mai họ sẽ hoàn trả. Nhưng họ sẽ theo dõi anh. Họ theo dõi anh liên tục. Họ theo dõi anh đang làm gì. Họ biết anh ăn gì, anh đã chi tiêu bao nhiêu cho thịt cá và rau cải, anh có người phục vụ hay không, hoặc anh có ý định ấy hay không."
"Từng chút một, bằng những phương pháp cẩn trọng, họ chỉnh sửa anh để anh sống một cuộc sống vô sản đúng nghĩa. Anh phải tập mặc quần áo xuềnh xoàng xám xịt như mọi người khác, và bắt buộc con cái của anh lao động. Nếu anh không tuân theo, họ sẽ tăng thuế của anh. Anh phải học tinh thần phấn khởi. Nếu anh không làm, họ sẽ thì thầm đồn đãi khắp làng rằng anh giàu có, rằng anh là phần tử phản động. Họ sẽ doạ đưa anh ra đấu tố. Họ sẽ cô lập anh: anh sẽ thấy hàng xóm không dám nói chuyện với mình. Nếu anh vẫn chưa quen được tinh thần phấn khởi, họ sẽ giao cho anh công việc để anh làm đến chết. Và những người Cộng sản không bao giờ nhận làm những điều ấy mà là nhân dân; luôn luôn trên danh nghĩa của nhân dân."
Đối Lập & Lật Lọng
- Áp đặt quyền lực vững chắc ở miền Bắc Việt Nam, nơi người dân lẽ ra phải được quyền quyết định tương lai của mình qua tự do bầu cử.
- Tăng gấp đôi lực lương quân sự - một vi phạm nghiêm trọng đối với hiệp định Geneva - giờ đây nó đã vượt qua cả quân đội của Pakistan (dân số 76 triệu người) và được Moscow nhận định rằng có khả năng chiến đấu cao hơn bất cứ quân đội Cộng sản nào.
- Xâm nhập lãnh thổ miền Nam Việt Nam (dân số 10,5 triệu), sâu rộng đến nỗi Việt Minh đã kiểm soát có hiệu quả 85% lãnh thổ và lấn đến ngưỡng cửa của Sài Gòn - nơi chính quyền Quốc gia của Bảo Đại đang hồi rệu rã. Việt Minh cũng đã đột nhập rất sâu vào Lào (dân số 1,1 triệu), quốc gia này trên lý thuyết đang được bảo vệ bởi Hiệp ước Phòng vệ Manila. Việt Minh đã ám sát 87 nhà lãnh đạo Quốc gia ở miền Nam Việt Nam và một Bộ trưởng Quốc phòng Lào.
Tiếng Sáo Mùa Thu & Nước dãi
Hồ Chí Minh là một nhà thơ: Bổng nghe tiếng sáo thu lạnh lẽo như tiếng báo hiệu bên sườn đồi mờ sương.
Ông cho mình là một con người của thế giới: "Moscow rất anh hùng," Ông
nhận xét một cách hóm hỉnh, "nhưng Paris lại là nơi để vui sống." Hồ Chí
Minh có vẻ là một người tốt bụng, ông thường gọi những đồng sự của mình
là "Chú" và họ gọi ông là "Bác Hồ". Nhưng dường như Bác Hồ lại thường
cất riêng Tổ Yến - một loại thức ăn quí hiếm lấy từ nước dãi chim yến -
trong phòng riêng của mình để không phải chia xẻ với mọi người; ông cũng
giữ riêng gói thuốc lá hiệu Philip Morris một bên túi và chỉ mời mọi
người loại thuốc lá nội hoá rẻ tiền.
Nồi Niêu & Muỗng Đĩa
Trong ba năm (có lẽ người viết đã nhầm với 3 tháng - ND) làm việc trên
biển, Hồ Chí Minh đọc rất nhiều - Tolstoy, Zola, Shakespeare, Marx - và
theo lời kể thì hành trình của ông rất gian khổ. Ông bị say sóng. Có lần
ông xuýt bị sóng cuốn khỏi tàu. Ông yếu đến nỗi không nhấc được những
nồi đồng nấu súp, và chỉ lãnh được vỏn vẹn 10 Franc trong suốt chuyến đi
dài 8 nghìn dặm đến Pháp. Tại Marseille ông đã cảm thấy bị xúc phạm khi
những cô gái điếm có mặt trên tàu. "Tại sao người Pháp không khai hoá
dân của họ," ông hỏi, "trước khi họ giả vờ khai hoá chúng tôi?"
Ngày một tốt đẹp hơn
Kiên định và chắc chắn Hồ chuyển hướng theo cánh tả. Ông chuộng những người Cộng sản hơn Xã hội vì "họ thật sự quan tâm đến vấn đề thuộc địa." Ông đã ngạc nhiên khi những người Cộng sản đã tham khảo ý kiến của ông. Vào mùa hè năm 1922 Hồ hăng hái tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, trong đó giải trình luận cương của họ về việc thành lập một "mặt trận cách mạng vững chắc" trên toàn thế giới. Hồ chỉ khiêm tốn đưa ra một kế hoạch khôn ngoan hơn và có thể áp dụng tốt tại Đông Dương. Hồ cho rằng 1) một cuộc cách mạng chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp trên danh nghĩa của chủ nghĩa quốc gia và một "chính thể dân chủ", sẽ được tiếp nối bởi 2) một cuộc cách mạng thứ hai chống lại chủ nghĩa quốc gia để tiến đến một nhà nước Xã hội Chủ nghĩa hoàn toàn.
Không bao lâu sau, Hồ đã biến mất khỏi Paris.
Một Đầu Óc Cởi Mở Đã Bị Mất.
Quân Áo Đen
Chủ Tịch Nước
Trong Ba Thoả thuận Lớn được ký kết tại Posdam, Quốc dân Đảng Trung Quốc đã tiếp quản Hà Nội và miền Bắc, người Anh (tức là người Pháp đi trên những chiếc tàu của Anh) đến để giải phóng Sài Gòn và miền Nam. Hồ đã phản đối. "Chân lý chính là bằng chứng của chúng ta," Hồ tuyên bố, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam. Bắt đầu một sự lật lọng vĩ đại.
Hồ Chí Minh gửi một bộ bàn đèn thuốc phiện làm bằng vàng đến cho vị tư lệnh Quốc dân Đảng Trung Quốc và thuyết phục ông ta rằng Việt Minh là lực lượng hợp lý để canh chừng người Pháp. "Tôi yêu nước Pháp và binh lính Pháp. Chào mừng quí vị. Quí vị đều là những anh hùng," Hồ Chí Minh lại tuyên bố, và người Pháp đã cho rằng Hồ là một người hữu dụng để canh chừng Trung Quốc. "Người Mỹ là những người giải phóng của thế giới tự do," Hồ kêu gọi sự hậu thuẫn tinh thần của Hoa Kỳ, và các sĩ quan OSS đã tham gia những buổi tiệc tục với Việt Minh trong khi Hồ đối phó với những vấn đề nan giải hơn. Khó khăn nghiêm trọng thứ Nhất là thành phần Quốc gia trong hàng ngũ Việt Minh, thành phần này đang cảm thấy bất an. Từng người một, những lãnh đạo Quốc gia đều bị ám sát; Hồ lại công khai thương xót cho những hành động dã man này.
Khó khăn nghiêm trọng thứ Hai là người Pháp: họ đang có một quyết tâm mới, một sĩ diện dân tộc của Pháp nhằm xoá sạch mối nhục chiến tranh vừa qua và tái xuất hiện như một cường quốc. Vì thế, người Pháp đã rất cương quyết đối với Đông Dương: họ muốn giành lại nó. Với sự tàn nhẫn và thủ đoạn không kém Hồ, quân đội Pháp đã nhanh chóng kiểm soát miền Nam và Hà Nội cũng không thể cầm cự thêm bao lâu. Và Hồ bèn ngã giá: khi quân Pháp quay lại miền Bắc và quân Trung Quốc rút đi, Hồ đã đồng ý đưa nước "Việt Nam Dân chủ Cộng hoà" quay lại khối Liên hiệp Pháp. Người Pháp công nhận Hồ là Chủ tịch nước.
Khởi Chiến
Trong suốt bảy năm cuộc chiến vẫn dẫm chân tại chỗ: người Pháp chiếm giữ các thành phố nhưng không thể chiếm lĩnh vùng rừng núi; Việt Minh kiểm soát vùng rừng nhưng lại không giành được thành phố. Cuộc cạnh tranh chính trị cũng không biến chuyển: người Pháp dựng lại Bảo Đại, một cựu hoàng bù nhìn của Nhật, dùng ông để khuyến khích tinh thần quốc gia của người Việt - nhưng họ đã chẳng đi đến đâu; Việt Minh cũng mất đi sự ủng hộ vì chính sách cưỡng bức lao động tàn bạo và những cuộc thanh trừng sâu rộng đối với các phần tử quốc gia. Nhưng đối với người dân Đông Dương, cuộc chiến là một nỗi khủng khiếp vô tận: khi chiến tranh chấm dứt đã có đến 2 triệu người Đông Dương không nhà. Sự chuẩn bị đầy kiên nhẫn của Hồ cuối cùng đã đem đến kết quả trong mùa xuân vừa qua, khi đã có hai cuộc tấn công nổi bật cách nhau 5 nghìn dặm: Với súng trường của Trung Quốc Đỏ và súng cối của Nga, họ đã đập tan khu phòng ngự kiên cố của Pháp tại Điện Biên Phủ; với Chu Ân Lai và Molotov, họ đã phá vỡ chính sách của phương Tây ở Geneva. Tháng vừa qua, một cảnh tượng đặc biệt chưa từng thấy trong khung cảnh lịch sử lâu đời đang mở ra của châu Á, những chiếc xe tăng của Pháp đã phải rút lui khỏi Hà Nội trước những người lính bộ binh Việt Minh mang giày vải.
"Chúng Ta Đang Chiến Thắng!" Với chiến thắng, vị thế của Hồ Chí Minh đã đạt thêm tầm cao mới tại châu Á. Những người quốc gia của nhiều nước khác, dù chống đối Chủ nghĩa Cộng sản, cũng không kềm chế được lòng tự hào đối với kỳ công của một quân đội bản xứ ở châu Á chống lại kẻ thống trị châu Âu ngày xưa. Những người Đông Dương đang khoanh tay ngồi đợi cũng đã không còn chờ đợi nữa. "Chúng ta đang chiến thắng! tại sao phải theo phe bại trận?" một phụ nữ Việt Minh hô hào thuyết phục binh lính người Việt đào ngũ. "Các người muốn con cháu nguyền rủa mình hay sao?"
Bên cạnh chiến thắng đầy phấn khích, Việt Minh còn đạt được:
- Một đội quân chiến đấu ở địa hình rừng núi hiệu quả nhất tại Đông nam Á, đã được tuyên truyền vô cùng kỹ lưỡng đến nỗi mỗi trung đội đều có tổ đảng, và chính trị viên thảo luận chính trị với thương binh tại các bệnh viện.
- Một vị tướng tài giỏi nhất Đông nam Á là Võ Nguyên Giáp, 42 tuổi, từng là sinh viên luật hàng đầu khi ông còn học tại Đại học Hà Nội, học viên của các trường quân sự Trung Quốc. Là một thành viên Cộng sản từ những năm cuối 30, đôi khi tính khí thất thường và cần được các quan chức của đảng theo dõi nhưng lòng căm thù người Pháp của ông thì luôn rõ ràng: người vợ đầu của ông bị vào tù vì đã gọi là cờ Tam Tài là "cờ của lũ chó", bà đã chết trong tù vì bệnh thương hàn.
- Một tổ chức chính trị vững chắc. Hồ Chí Minh đã phá tan thành phần Quốc gia trong hàng ngũ Việt Minh, và ông là người lãnh đạo được tin tưởng trong Bộ Chính trị của Việt Minh.
- Thành viên của đế chế Cộng sản và người hướng dẫn lão luyện. Sĩ quan và hàng tiếp viện của Trung Quốc Đỏ tràn ngập Hà Nội. Bảy trong số mười một người lãnh đạo hàng đầu của Việt Minh được đào tạo tại Moscow. Theo tài liệu đáng tin cậy nhất, Hồ Chí Minh được phép báo cáo trực tiếp với Moscow mà không phải qua Bắc Kinh.
Và Việt Minh, không như đối thủ phương Tây của mình, đã không hề có một
mục đích mơ hồ. "Đảng nhìn nhận rằng cuộc cách mạng ở Việt Nam là một bộ
phận của cuộc cách mạng thế giới do Liên Sô lãnh đạo," Việt Minh tuyên
bố.
Đặc Quyền & Hiện Diện
Người Pháp thực dân cũng góp phần vào sự hỗn loạn này. Một số vì muốn giữ lại những đặc quyền tại những vùng cao su trù mật ở miền Nam nên đang khuyến khích các tướng lĩnh người Việt âm mưu chống lại Diệm; những người Pháp khác lại muốn thay thế Diệm với Bửu Hội, 39 tuổi, một người cánh tả và chuyên gia về bệnh phong đã không sống tại Đông Dương trên 20 năm qua. Ở miền Bắc Cộng sản, một phái bộ Pháp gồm 20 người đang hy vọng giữ vững sự "Hiện diện của người Pháp" và để giao thương tại đất nước của Việt Minh; họ còn thảo luận về việc người Pháp sẽ giúp dựng lại tuyến đường hoả xa chiến lược và quan yếu từ Hà Nội đi Lạng Sơn đến vùng biên giới của Trung Quốc Đỏ.
Tại Sài Gòn, người Pháp đã trở nên thờ ơ. "Dĩ nhiên là đất nước này đã mất," một phóng viên người Pháp nói. Một số khác thì chua xót. "Bọn người này không hề biết ơn và thấu hiểu những gì chúng ta đã làm cho họ," Một phụ nữ Pháp ngồi trên sân thượng uống nước chanh nói. Đặc phái viên Pháp, tướng Paul Ely vẫn hết lòng làm việc với Hoa Kỳ để chấn chỉnh lại Nam Việt Nam, nhưng những người khác thì không. Một người Mỹ than phiền: "Họ đối xử với Đông Dương như một gã đàn ông Pháp đối xử với cô tình nhân mà mình không còn yêu thương nữa. Anh ta không cần nàng nữa, nhưng lại bực bội khi thấy người khác để ý đến."
Rõ ràng là Hoa Kỳ đã quan tâm quá chậm trễ. Vào những ngày cuối của Thế chiến Thứ II, Tổng thống Roosevelt đã lên án "quá khứ kinh hoàng" của chủ nghĩa thực dân Pháp, và Hoa Kỳ sau đấy đã đặt điều kiện rằng viện trợ của họ cho Pháp sẽ không được dùng vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Người Mỹ đã mất một thời gian lâu mới vỡ lẽ rằng người Pháp, dù mang những tội lỗi thực dân, đang chiến đấu chống lại một kẻ thù dù luôn mang danh nghĩa chống thuộc địa, thật ra lại là một người Cộng sản kiên quyết. Đến lúc ấy thì đã quá muộn. "Chúng ta lâm vào tình trạng của cái nút chai nằm trong lọ" Tổng thống Eisenhower nói. Về vấn đề Đông Dương, Phó Tổng thống Nixon nói, trong tiếng vọng ảm đạm của Điện Biên Phủ: "Để tránh việc Cộng sản lan rộng ở châu Á, chúng ta phải mạo hiểm và đưa quân vào, tôi cho rằng ngành hành pháp phải... làm việc này." Nhưng mặc dù Hoa Kỳ đã tiêu tốn khoảng 800 triệu đô-la một năm tại Đông Dương cho đến khi cuộc chiến chấm dứt, họ đã đứng ngoài việc phải cầm súng.
Giờ đây Hoa Kỳ lại nhúng tay vào. Tuần trước Tổng thống Eisenhower đã phái Tướng J.Lawton Collins, cựu Tư lệnh Lục quân, sang Nam Việt Nam để xem xét tình hình. "Joe Sấm sét" Collins đã lạc vào một nơi đầy rẫy những mưu mô, cay đắng và tuyệt vọng. Vai trò của ông thật khó khăn. Ông không thể tự ra lệnh mà chỉ có thể đề xuất, gây áp lực và thuyết phục. Các quan chức Hoa Kỳ ở đây muốn người Pháp rút phái bộ của họ ra khỏi Hà Nội và chấm dứt quan hệ với Hồ Chí Minh, muốn các tướng lĩnh để yên cho Diệm và hoàn toàn dẹp bỏ Bảo Đại. Chỉ có như vậy thì Diệm mới có thể giải quyết những khó khăn căn bản của Nam Việt Nam: nhanh chóng cải cách điền địa, củng cố quân đội và tái lập lòng tin.
Bản thân Hoa Kỳ cũng mang đầy hoài nghi: Lầu Năm góc không muốn bị sa lầy tại vùng đất châu Á này; Bộ Ngoại giao thì không sẵn sàng dùng uy thế của Hoa Kỳ để nhúng tay quá sâu vào Nam Việt Nam nếu mục tiêu đã không còn nữa. Theo điều kiện của hiệp ước Geneva, tất cả các cuộc bầu cử tại Việt Nam dự định sẽ tiến hành trong năm 1956, và người đắc cử sẽ nắm giữ toàn bộ đất nước. Cho đến hôm nay, người chiến thắng ấy là Hồ Chí Minh. Miền Bắc Cộng sản, dưới thể chế độc tài, sẽ dễ dàng chiếm đa số phiếu hơn một miền Nam đang đổ vỡ vì loạn lạc.
Nút Nằm trong Lọ
Giờ đây Hoa Kỳ lại nhúng tay vào. Tuần trước Tổng thống Eisenhower đã phái Tướng J.Lawton Collins, cựu Tư lệnh Lục quân, sang Nam Việt Nam để xem xét tình hình. "Joe Sấm sét" Collins đã lạc vào một nơi đầy rẫy những mưu mô, cay đắng và tuyệt vọng. Vai trò của ông thật khó khăn. Ông không thể tự ra lệnh mà chỉ có thể đề xuất, gây áp lực và thuyết phục. Các quan chức Hoa Kỳ ở đây muốn người Pháp rút phái bộ của họ ra khỏi Hà Nội và chấm dứt quan hệ với Hồ Chí Minh, muốn các tướng lĩnh để yên cho Diệm và hoàn toàn dẹp bỏ Bảo Đại. Chỉ có như vậy thì Diệm mới có thể giải quyết những khó khăn căn bản của Nam Việt Nam: nhanh chóng cải cách điền địa, củng cố quân đội và tái lập lòng tin.
Những Người Dân trên Doi Cát
Tuần trước tại Hà Nội, trong dịp kỷ niệm 37 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh tuyên bố: "Ngày nay phương Đông chúng ta với hơn phân nửa dân số thế giới đang cùng Liên Sô tham gia cuộc chiến đấu... Đây là lực lượng vô cùng dũng mãnh và ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn." Nhưng chính từ miền Bắc Việt Nam, kể từ sau hội nghị Geneva, đã có khoảng 450 nghìn người Việt chạy trốn khỏi những khe hở trong khối đá tảng của chính quyền Việt Minh mới, từ bỏ chế độ độc tài trong sạch của Bác Hồ để tìm đến nền tự do của miền Nam hỗn loạn. Lý do của làn sóng người tị nạn này là Việt Minh đã tàn phá những phong tục và quan hệ của quá khứ, nhổ toẹt lên giá trị gia đình và tôn giáo.
Trên những chiếc bè thô sơ, thuyền tam bản hoặc những tàu chiến phương Tây, với những gì còn lại trong cuộc sống quí báu trước đây được gói trọn trong những bao vải, những người tị nạn tiến về phía nam - thừa hiểu rằng việc ra đi của họ cũng chính là bản án tử hình nếu bị Bác Hồ bắt được. Tuần trước đã có vài nghìn dân tị nạn vượt khỏi lãnh thổ của Cộng sản và bị kẹt tại những doi cát ngoài bờ biển Bắc Việt Nam. Trước mặt họ là biển cả. Phía sau họ là mảnh đất Cộng sản với niềm vui khiên cưỡng. Những người gan dạ và mạnh khoẻ hơn đã leo lên những chiếc thuyền mỏng manh để vượt 3 dặm ra khỏi hải phận, nơi có những mẫu hạm của Pháp đang đợi để kéo họ lên và đưa họ đến miền tự do. Nhưng những người còn lại thì có lẽ bị vắn số hơn. Việt Minh đã lạnh lùng cho biết rằng bất cứ chiếc tàu nào vượt qua lằn ranh 3 dặm để cứu những người tị nạn sẽ bị bắn. Trên miền đất châu Á của con người chiến thắng Hồ Chí Minh và anh cả Mao, vẫn còn hàng triệu người bị dạt trên những cồn cát hoang vắng: việc cứu vớt, nếu còn thời gian và lý do để cứu vớt những người châu Á chậm trễ này, sẽ cần đến sức mạnh, lòng nhân đạo và một ý chí sắt thép.
* Ở miền Nam, cho đến nay Việt Minh đã cố tình thực hiện hiệp định một cách đúng đắn; họ còn phô trương việc đưa hàng trăm quân của mình quay về miền Bắc.
Trên những chiếc bè thô sơ, thuyền tam bản hoặc những tàu chiến phương Tây, với những gì còn lại trong cuộc sống quí báu trước đây được gói trọn trong những bao vải, những người tị nạn tiến về phía nam - thừa hiểu rằng việc ra đi của họ cũng chính là bản án tử hình nếu bị Bác Hồ bắt được. Tuần trước đã có vài nghìn dân tị nạn vượt khỏi lãnh thổ của Cộng sản và bị kẹt tại những doi cát ngoài bờ biển Bắc Việt Nam. Trước mặt họ là biển cả. Phía sau họ là mảnh đất Cộng sản với niềm vui khiên cưỡng. Những người gan dạ và mạnh khoẻ hơn đã leo lên những chiếc thuyền mỏng manh để vượt 3 dặm ra khỏi hải phận, nơi có những mẫu hạm của Pháp đang đợi để kéo họ lên và đưa họ đến miền tự do. Nhưng những người còn lại thì có lẽ bị vắn số hơn. Việt Minh đã lạnh lùng cho biết rằng bất cứ chiếc tàu nào vượt qua lằn ranh 3 dặm để cứu những người tị nạn sẽ bị bắn. Trên miền đất châu Á của con người chiến thắng Hồ Chí Minh và anh cả Mao, vẫn còn hàng triệu người bị dạt trên những cồn cát hoang vắng: việc cứu vớt, nếu còn thời gian và lý do để cứu vớt những người châu Á chậm trễ này, sẽ cần đến sức mạnh, lòng nhân đạo và một ý chí sắt thép.
Chú thích
* Không thật sự rõ tên và tuổi thật của Hồ. Ông sinh ra là Nguyễn Tất Thành, hoặc Nguyễn Sinh Huy, hoặc Nguyễn Văn Thành vào năm 1890, 1892 hoặc 1894, là con trai của một vị quan địa phương nghèo nhưng học cao, cha ông bị mất việc vì chống lại người Pháp. Trong suốt 20 năm, Hồ được biết như Nguyễn Ái Quốc. Cái tên Hồ Chí Minh là tên cuối cùng trong hàng loạt bí danh; được dùng trong thời gian Thế chiến thứ II.* Ở miền Nam, cho đến nay Việt Minh đã cố tình thực hiện hiệp định một cách đúng đắn; họ còn phô trương việc đưa hàng trăm quân của mình quay về miền Bắc.
-------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyên văn bài viết tiếng anh: http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,806931,00.html
