Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 4, 2013

,

Khởi công xây dựng cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng


Cảng quốc tế sánh tầm khu vực

Thành phố Cảng Hải Phòng có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Đông Bắc và cả nước, nằm trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với hệ thống cảng biển đa dạng, khu vực cảng biển Hải Phòng có lượng hàng hoá thông qua tăng khoảng 600% trong vòng 10 năm qua. Dự báo, lượng hàng hóa thông qua nhóm cảng phía Bắc đến năm 2020 là 146 – 176 triệu tấn/năm. Trong khi đó, tổng năng lực của các cảng hiện hữu kể cả sau khi nâng cấp, mở rộng cũng chỉ đạt 86 – 90 triệu tấn vào năm 2015. Sự gia tăng lượng hàng hoá khiến hệ thống hạ tầng cảng biển Hải Phòng trở nên quá tải. Mặt khác, luồng tàu qua cửa Lạch Huyện đến kênh Hà Nam có độ sâu -7,2m (CD), chỉ cơ bản đáp ứng cho tàu biển trọng tải đến 10.000 tấn đầy tải, tàu lớn hơn phải giảm tải trong khi các bến cảng khu vực Đình Vũ chưa đáp ứng được.

Dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng được khởi công sau 9 năm chuẩn bị, bao gồm 4 năm nghiên cứu hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết, 3 năm nghiên cứu lập, thẩm định, phê duyệt dự án và 2 năm thực hiện công tác thiết kế chi tiết, đấu thầu.

Theo quy hoạch, Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng được xây dựng ở phía Nam cửa Lạch Huyện, dọc theo luồng vào cảng hiện tại với tổng chiều dài bến khoảng 8.000 m; chiều dài toàn bộ tuyến luồng khoảng 18 km.

Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng được đầu tư cơ sở hạ tầng và công nghệ bốc xếp đồng bộ và hiện đại, có thể tiếp nhận được tàu container trọng tải lớn từ 4.000 – 6.000 TEU và lên đến 8.000 TEU trong các giai đoạn sau của Dự án (tương đương với tàu trọng tải 100.000 tấn hoạt động trên tuyến vận tải biển xa).

Trong tương lai, Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng sẽ đóng vai trò trung tâm và hệ thống cảng biển và cảng nội địa khác là các vệ tinh, hình thành hệ thống logistic năng động, hiệu quả và trở thành trạm trung chuyển hàng hóa quốc tế; đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đưa hàng hóa xuất khẩu của khu vực miền Bắc đi thẳng tới thị trường Châu Âu, Châu Mỹ. Khi đó, hàng hóa không phải trung chuyển qua các cảng khu vực như Singapore, Hồng Kông, giảm chi phí vận tải, tăng năng lực cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam…

Ngoài ra, Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng còn thu hút lượng lớn hàng quá cảnh từ khu vực Đông Bắc Lào và khu vực Nam Trung Quốc.

Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng dự kiến hoàn thành vào năm 2016 sẽ góp phần thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển; kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển…

Khẳng định vai trò quan trọng của biển, kinh tế biển, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, Dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng nói riêng, khu vực và cả nước nói chung.


Tổng mức đầu tư của Dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng khoảng 25.000 tỷ đồng, được thực hiện bằng hình thức hợp tác công-tư bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản và vốn ngân sách, gồm 2 hợp phần.

Hợp phần A gồm: Xây dựng cơ sở hạ tầng dùng chung cho cảng trong các giai đoạn (luồng tàu, vũng quay tàu, đê chắn sóng dài 3.230 m với cao trình đỉnh đê +6,5 CD, đê chắn cát dài 7.600 m với cao trình đỉnh đê +2,0 CD, đường ngoài cảng, tôn tạo xử lý nền đất yếu). Ngoài ra còn có bến công vụ, đường bãi khu vực hành chính, cơ quan quản lý nhà nước… Tổng mức đầu tư khoảng 18.627 tỷ đồng. Chủ đầu tư là Cục Hàng hải Việt Nam.

Hợp phần B gồm: Đầu tư 2 bến tổng chiều dài 750 m, trang thiết bị khai thác, xếp dỡ, cho tàu container trọng tải đến 100.000 tấn. Tổng mức đầu tư khoảng 6.572 tỷ đồng. Chủ đầu tư là Công ty TNHH  Cảng container quốc tế Hải Phòng.
Nguồn: Chinhphu.vn

2 tháng 4, 2013

, , ,

Thơ gửi hiệp hội Bất Động Sản

29 March 2013

“Mặt trời trong tôi lặn để bình minh lại đến…My sun sets to rise again” – Robert Browning

Kính thưa Quý Vị

Dù chỉ mới nhận được 15 câu hỏi “chất vấn” của Quý Vị qua báo chí, tôi cũng xin phản hồi sớm vì sự mong đợi của rất nhiều đọc giả; cũng như để tỏ lòng tôn kính với “1,000 (?) đồng nghiệp” của tôi. Tôi cũng đã từng làm một nhà đầu tư dự án BDS (real estate developer) ở tận xứ Mỹ xa xôi vào cuối thập niên 1970’s. Sau 7 năm huy hoàng với lợi nhuận, tôi và các đối tác đã trắng tay trả lại mọi vốn và lời trong dự án lớn ở Arizona vào năm 1982. Do đó, tôi khá đồng cảm với trải nghiệm “của thiên trả địa” hiện tại của Quý Vị.

Tôi không quen bị “chất vấn”, không phải là một cậu học trò phải thi trắc nghiệm, cũng không có “quyền lợi” hay “nghĩa vụ” gì trong tình huống này, nên xin phép được trả lời các bậc đàn anh theo phong cách của mình. Vả lại, những chi tiết nhỏ nhặt của 15 câu hỏi đã được “trả lời” qua các bài viết của tôi trong vài năm qua (còn lưu lại tại www.gocnhinalan.com). Thêm vào đó, nhiều BCA (bạn của Alan) cũng đã ra công sức phản biện qua các lời bình trên trang web này và các mạng truyền thông khác. Quý Vị tự tìm tòi nhé.

Cốt lõi của vấn đề

Một khuynh hướng chung khi tìm giải pháp cho vấn nạn BDS hiện nay của Việt Nam là đóng khung bài toán trong các công thức tài chánh. Vài doanh nghiệp BDS nhờ tôi tư vấn tìm vốn vì họ nói không thể tiếp cận được các nguồn tài trợ. Câu trả lời của tôi là vấn đề BDS thuộc chuyện thị trường.

Vốn trong dân tại Việt Nam được các nhà chuyên gia nước ngoài ước tính vào khoảng 60 tỷ US dollars; và vốn từ Việt kiều và các nhà đầu tư ngoại có thể lên thêm khoảng 20 tỷ (các số liệu này có thể sai nhưng chúng ta sẽ không bao giờ tìm được một thống kê chính xác và chính thống về các con số nhậy cảm ở Việt Nam). Tuy nhiên, dù với con số nào, số tiền này cũng thừa đủ để giải quyết mọi hàng BDS tồn kho.

Trên góc cạnh thị trường, khi người bán đáp ứng được nhu cầu người mua về sản phẩm và dịch vụ (gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là giá cả và chất lượng) thì giao dịch xẩy ra. Do đó, câu hỏi cốt lõi là những BDS mà quý vị đã và đang sản xuất có mức giá và chất lượng theo đúng nhu cầu của người tiêu dùng chưa? Theo tôi biết, nhu cầu về phân khúc nhà cho người thu nhập thấp rất cao; nhưng sản phẩm gần như quá ít. Trong khi đó, nguồn cung cầu tại phân khúc nhà cao cấp lại mất cân bằng và lượng tồn kho có thể phải mất 10 năm mới tiêu thụ hết.

Tóm lại, khủng hoảng BDS hiện nay là một tính toán sai lầm của nhà sản xuất BDS về giá cả và loại hàng.

Giá thành quá cao?

Nhiều người trong Quý Vị biện bạch là giá BDS cao ngất trời vì giá đất, giá nguyên vật liệu, chi phí hành chánh và bôi trơn…quá cao. Thật tình, lý giải này chỉ chứng tỏ tính chất làm ăn thiếu hiệu quả vì không biết những tính toán căn bản về đầu tư cho dự án; cũng như cho thấy yếu kém của các quyết định bầy đàn và chụp giựt.

Nhưng đôi khi, tình thế ngoại vi cũng có thể làm sai trật mọi tính toán. Chẳng hạn khi tôi bắt đầu dự án Arizona nói trên vào 1979, chúng tôi đã không ngờ là lãi suất lên đến 16-18% mỗi năm khi hoàn tất, thay vì 8-9% như dự tính. Giá nhà vẫn hợp lý, nhưng phần lớn người Mỹ mua nhà bằng tín dụng, nên dự án phải phá sản. Dù không phải lỗi của chủ quan, nhưng chúng tôi hiểu rõ luật chơi của thị trường và cúi đầu chấp nhận.

Người mua nhà, hay ngay cả vợ con bạn bè của Quý Vị, thật sự không quan tâm đến lý do tại sao giá nhà lại cao hay thấp thế này? Vừa mua thuận bán thôi.

Một chút lịch sử

Dĩ nhiên, tất cả bàn luận trên đây dựa trên quy luật thị trường. Nhiều bạn sẽ nói là nền kinh tế chúng ta có “định hướng xã hội” nên chánh phủ phải nhẩy vào can thiệp hay cứu trợ khi “con cái” gặp hoạn nạn.

Chắc Quý Vị còn nhớ, có khi giá nhà đất lên cao cả mấy trăm phần trăm mỗi năm vào thập kỷ 1995-2006, không ai kiến nghị chánh phủ phải can thiệp để cứu người tiêu dùng bằng cách ngăn chận mọi sự tăng giá (nhiều khi phi pháp). Các nhà sản xuất BDS quên mất “định hướng xã hội” của Viêt Nam và ủng hộ triệt để nguyên lý thị trường.

Bây giờ, vào nửa hiệp sau của trận bóng, các cầu thủ lại yêu cầu trọng tài áp dụng một luật chơi mới? Tính bất nhất này làm mọi biện luận của Quý Vị trở nên ngây ngô cùng ngạo mạn.

Hệ quả khi bong bóng BDS nổ

Trước hết, khi nói về hệ quả, tôi xin mọi người ghi nhận công trạng của những nhà đầu cơ BDS trong việc tạo ra khủng hoảng hiện nay. Tất cả những suy thoái, trì trệ và việc kém hiệu quả trong các đầu tư để công nghiệp hóa hay gia tăng sản lượng nông, hải , sản…đều có thể truy nguồn đến những bong bóng tài chánh như BDS, chứng khoán và ngân hàng. Khi dòng tiền tấp nập chảy về lãnh vực này để hưởng lợi nhuận dễ dàng và nhanh chóng, chúng ta đã hy sinh những đầu tư xã hội cần thiết và dài hạn như y tế, giáo dục, công nghệ cao, nông nghiệp…Tai hại của sự lãng phí và tham ô trong việc sử dụng tài lực quốc gia này sẽ làm cả dân tộc trả giá trong nhiều thập kỷ sắp đến.

Nếu nhìn từ định hướng CNXH, các doanh nhân và quan chức có liên hệ đến việc đầu cơ, thao túng và lèo lái dòng tiền đầu tư…để thổi phồng các bong bóng tài sản đều có thể bị kết tội dưới nhiều luật lệ. Hú hồn. May mà Quý Vị còn chữ “kinh tế thị trường” để mà núp bóng.

Ngoài ra, về các hệ quả tương lai khi bong bóng BDS nổ, Quý vị đã tự đặt cho mình một vị trí quá quan trọng trong nền kinh tế chung. Dĩ nhiên có thể hơn 50% các doanh nghiệp kinh doanh BDS và vật liệu xây dựng cũng như 50% các ngân hàng nhỏ yếu sẽ chết vì nợ xấu…nhưng tôi chắc chắn là “không có Mợ thì chợ vẫn đông”. Thực ra, những doanh nghiệp, ngân hàng…này cũng đã chết lâm sàng rồi. Họ kéo dài hơi thở để đợi chút oxygen từ tiền thuế và phí của người dân. Hiện tại, họ không đóng góp chút gì cho sản lượng quốc gia trong khi tiếm dụng một phần nguồn lực không nhỏ.

Về các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, một số lớn đã ngất ngư vì không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, Thái Lan…tại sân nhà hay sân người. Đổ lỗi cho tình hình BDS chỉ là một thủ thuật phát sinh từ thói quen lười biếng.

Con ngáo ộp thứ hai Quý Vị đem ra hù dọa là con số vài chục ngàn trong số 53 triệu công nhân toàn quốc (với tỷ lệ thất nghiệp khoảng 2.2% theo thống kê nhà nước) sẽ bị ảnh hưởng khi bong bóng BDS nổ tung. Nếu nền kinh tế chúng ta phát triển bền vững và bài bản, sự tạo ra việc làm cho các công nhân này chỉ là chuyện nhỏ.

Con ngáo ộp thứ ba của Quý vị là các người dân bỏ tiền trong các ngân hàng sẽ chịu mất mát khi vài ngân hàng đóng cửa. Theo tôi hiểu, mỗi tài khoản hiện nay được bảo hiểm đến 50 triệu VND và đang được NHNN đề xuất lên 100 triệu VND (vì lạm phát nhiều năm qua). Tỷ lệ mất mát cho những tài khoản trên 100 triệu VND tại các ngân hàng sẽ rất nhỏ; vì các nhà đa triệu phú thường không ngu để mất tiền như Quý Vị tiên đoán. Họ có nhiều giải pháp sáng tạo hơn Quý Vị và nhà nước nhiều.

Những hệ quả tích cực

Trong bài “Thị trường sẽ cứu chúng ta” (www.gocnhinalan.com) tôi đã ghi nhận 5 hệ quả tích cực hơn khi bong bóng BDS nổ. Đó là số lượng vài trăm ngàn gia đình lần đầu sở hữu một căn nhà vừa túi tiền, hiện tượng tâm lý “an cư lạc nghiệp” tạo cú kích cầu tiêu dùng, gây lại niềm tin cho kinh tế, loại bỏ các thành phần phi sản xuất yếu kém, tăng thu ngân sách và thu hút đầu tư nội ngoại.

Trong đó, quan trọng nhất là việc tạo một tầng lớp trung lưu mới, hết sức cần thiết cho mọi sự phát triển bền vững. Nhìn qua các xã hội đã mở mang tại Âu Mỹ Nhật Úc, tầng lớp trung lưu với những tài sản thâu góp được thường là đầu tàu cho chiếc xe kinh tế. Họ tạo ra thị trường tiêu dùng lớn nhất, họ đóng thuế nhiều nhất, họ làm việc cần cù nhất, họ nợ nhiều nhất (tốt cho ngân hàng và các ông chủ), họ có niềm tin cao nhất vào đất nước …vì họ có quá nhiều thứ để mất. Một xã hội bất ổn là khi phần lớn người dân không có gì để mất.

Hệ quả khi bong bóng không nổ

Tôi thì lại lo sợ về những hệ quả trái ngược nếu quyền lực của Quý vị thành công và thuyết phục nhà nước bơm tiền dân cứu Quý Vị và các ngân hàng yếu kém.

Trước hết, nền kinh tế zombies (xác chết biết đi) này sẽ kéo dài ít nhất là một thập kỷ nữa.

Khi phải in tiền đủ để cứu trợ, nạn lạm phát sẽ bùng nổ lại và tỷ giá VND sẽ rơi. Nhiều người đã quay qua Mỹ quan sát về các gói cứu trợ ngân hàng tư và đề nghị NHNN dùng giải pháp này cho Việt Nam. Một ghi chú nhỏ: chánh phủ Mỹ cho các ngân hàng này vay vốn với lãi suất cực rẻ; nhưng không cứu các doanh nghiệp hay giá BDS; và sau khi gây lại vốn sở hữu bị mất trong cuộc khủng hoảng tài chánh 2008, hầu hết các ngân hàng đã trả tiền lại cho chánh phủ. Giải pháp này không thể thực hiện ở Việt Nam vì các ngân hàng thương mại Việt không đủ uy tín, thương hiệu, tầm cỡ, tính minh bạch hay khả năng quản trị để tiếp cận nguồn vốn nội hay ngoại (vẫn rất dồi dào).

Chánh phủ hiện đã bội chi vì các vấn đề kinh tế xã hội từ khủng hoảng và nguồn thu từ thuế và phí đang bị thu hẹp đáng kể. Dùng những tài lực hiếm hoi để nuôi các zombies phi sản xuất là kéo dài cuộc suy thoái cho các thành phần khác trong nền kinh tế.

Nhưng tệ hại nhất là khi tung tiền cứu nguy cho “bồ nhà”, chánh phủ sẽ gởi một thông điệp bào mòn mọi niềm tin còn sót lại của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là: “mọi sai phạm lầm lẫn sẽ được che đậy và bảo vệ; và các quy luật của thị trường có quyền đi “nghỉ mát” khi quyền lợi của các nhóm lợi ích bị xâm phạm”.

Những giải pháp sáng tạo

Sau cùng, nếu con phượng hoàng có thể bay lên từ đống tro tàn thì các zombies cũng có thể tái tạo lại một đời sống mới. Trong nền kinh tế trí thức toàn cầu này, sáng tạo vẫn là một điều kiện tiên quyết cho mọi doanh nghiệp.

Tôi không kinh doanh BDS từ năm 1982, nên tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Nhưng tôi nhận thấy có những đại gia “thật lớn” của BDS đã phát triển mạnh trong khủng hoàng này. Bầu Đức của HAGL chọn giải pháp “xuất ngoại” khi bán tháo BDS tại Việt Nam và đem tiền đổ vào Lào và Myanmar. Ngài Vượng của Vincom đạt được danh tỷ phú đô la với phân khúc trung tâm thương mại cao cấp trong thời bão táp. Mr. Quang của Nam Long thì thành công với vốn ngoại và mô hình EHome cho phân khúc trung lưu. Các trường hợp phát triển như anh Thìn Đất Xanh hay anh Đực Đất Lành là những thí dụ khác.

Trong lãnh vực vật liệu xây dựng, sản phẩm nhà tiền chế theo dây chuyền hay các vật liệu từ công nghệ cao và xanh đã biến nhiều doanh nhân thế giới thành tỷ phú. Trí tuệ Việt chắc chắn phải có rất nhiều…Ngô Bảo Châu…trong ngành BDS. Đây là tương lai của BDS Việt trong mong đợi của mọi người; không phải hình ảnh của các zombies níu kéo vào dây trợ sinh trên giường bệnh.

Thay cho lời kết

Tôi thực sự khâm phục khả năng lobby của Hiệp Hội BDS và các thành viên. Tạo được một bong bóng khiến giá trị BDS lên đến 25 lần thu nhập trung bình của người dân là một thành tích đáng ghi vào kỷ lục Guinness. Tôi cũng tiên đoán là chánh phủ rồi cũng sẽ tung nhiều gói cứu trợ BDS mặc cho sự can gián của nhiều chuyên gia và đa số người dân. So với Quý Vị, tiếng nói của chúng tôi không đủ trọng lượng để chánh phủ lưu tâm.

Do đó, cuộc tranh cãi nên dừng lại ở đây để những người dân chưa có nhà không nên kỳ vọng vào một phép lạ trong tương lai gần.

Nhưng trong sâu thẳm, tôi vẫn mang nhiều hy vọng. Có thể một lúc nào đó, những tinh hoa của đất Việt sẽ quên đi quyền lợi cá nhân của mình và gia đình…để san sẻ lại cho các người dân kém may mắn hơn. Không phải để làm từ thiện, mà nhận trách nhiệm rộng lớn hơn với cộng đồng, và với thế đứng của Việt Nam trên thương trường quốc tế. Để doanh nhân Việt được tự hào với tư duy sáng tạo cởi mở và khả năng vượt khó bền bỉ. Để thế hệ sau còn có chút niềm tin và lực đẩy khi họ phải ra biển lớn cạnh tranh.

Riêng đối với những vị đã mất mát tài sản vì sai phạm đầu tư, tôi xin chia sẻ nơi đây câu thơ của tiền nhân mà tôi tự an ủi mình sau khi ký giấy trao lại cho ngân hàng toàn bộ dự án Arizona và ra đi với bàn tay trắng,” Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu…Gặp thời thế thế thì phải thế”. Dù sao, chỉ 3 năm sau đó, tôi lại kiếm được nhiều tiền hơn trong một mô hình kinh doanh khác.

Mong Quý vị mọi điều may mắn và mong tinh thần “kẻ sĩ” mãi cháy sáng trong cuộc đời Quý vị.
Thân ái,
Alan Phan

Tham khảo: Các bài về BDS từ trang 185 của cuốn sách “Đi Tìm Niềm Tin Thời Internet” của Alan Phan do nhà sách Thái Hà xuất bản (2012). Và các bài về BDS trên web site www.gocnhinalan.com.
Những ảnh hưởng tích cực sau đây sẽ quay về giúp nền kinh tế tiến về một định hướng bền vững hơn.

  1. Khi đa số người dân sở hữu một căn nhà, tầm nhìn và niềm tin của họ vào tương lai vững vàng hơn. Bây giờ họ có một tài sản gì để mất; do đó, sự đóng góp của họ vào nền kinh tế sẽ năng động và tích cực.

  2. Niềm tin này mới là “gói kích cầu” quan trọng hơn cả cho thị trường tiêu dùng và nó sẽ kích hoạt các cơ sở công nghiệp cũng như nông nghiệp gia tăng sản xuất, giảm lượng tồn kho và cải thiện năng suất lao động để cạnh tranh. Nên nhớ là tiền dự trữ trong dân nhiều gấp 3 lần tiền dự trữ của chánh phủ;

  3. Khi các zombies (xác chết biết đi) bị loại bỏ khỏi hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán, những định chế sống sót sẽ mạnh hơn nhờ thị phần gia tăng; sẽ chăm chú hơn vào ngành nghề cốt lõi (sau bài học đầu tư đa ngành) và lo trau luyện những kỹ năng cần cho sự cạnh tranh dài hạn;

  4. Lạm phát hay tỷ giá sẽ không tăng tốc lâu dài, vì chánh phủ không cần in tiền thêm để cứu ai (một thông điệp rất rõ cho các DNNN) và ngân sách sẽ bội thu nhờ thuế phí tăng thu từ sự tăng trưởng GDP; cũng như nguồn ngoại tệ sẽ dồi dào hơn với sinh lực mới của khu vực xuất khẩu;

  5. Khi kinh tế vĩ mô ổn định và khi luật thị trường thay thế luật “hành dân”, niềm tin quay lại với các nhà đầu tư quốc tế và kiều hối. Kênh ngoại tệ này sẽ thâu ngắn sự hồi phục và giúp chúng ta một lợi thế cạnh tranh mới.
Nguồn: Góc nhìn Alan
, ,

Từ KAMCO nghĩ về VAMC

Chính phủ Hàn Quốc quyết định mở rộng chức năng và sử dụng KAMCO như một công cụ xử lý các khoản nợ xấu chung...

Các ngân hàng Hàn Quốc đã giảm mạnh được các khoản nợ xấu nhờ sự giúp sức của KAMCO.

Những gì liên quan đến đề án thành lập Công ty Quản lý Nợ xấu Việt Nam (VAMC) luôn được thị trường tài chính quan tâm. Trong đó, đáng quan tâm nhất là chiến lược và cách thức hoạt động của VAMC. Vấn đề này đến nay vẫn còn nằm trên bàn dự thả và đang gây nhiều tranh cãi.

Tuy nhiên, nếu xét kỹ, quy trình sơ bộ VAMC vạch ra lại có phần giống với KAMCO, công ty quản lý tài sản của Hàn Quốc. KAMCO ra đời năm 1962 nhằm quản lý các khoản nợ xấu của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc. Đến tháng 11/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định mở rộng chức năng và sử dụng KAMCO như một công cụ xử lý các khoản nợ xấu chung cho cả hệ thống.

Một quỹ dưới quyền KAMCO ra đời với nhiệm vụ mua lại các khoản nợ xấu từ hệ thống tài chính và được phát hành trái phiếu dưới sự bảo lãnh của Chính phủ. Quy mô của quỹ này ban đầu là 1.500 tỉ won (tương đương 1,34 tỉ USD tính theo tỉ giá hiện tại), sau đó nhiều lần được tăng lên trong suốt giai đoạn khủng hoảng châu Á.

Mùa thu 1997, bảng cân đối tài sản của các tổ chức tài chính Hàn Quốc xấu đi một cách nghiêm trọng. 14/26 ngân hàng thương mại có tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 8%. Có 2 ngân hàng phá sản về mặt kỹ thuật (có vốn chủ sở hữu âm). 28/30 ngân hàng đầu tư của Hàn Quốc cũng lâm vào tình trạng này.

Khi nhập cuộc, KAMCO đã chia các khoản nợ ra thành 4 loại: các khoản vay thông thường, các khoản vay đặc biệt (đang chờ xử lý nợ từ tòa án), các khoản vay Daewoo (liên quan đến Tập đoàn Daewoo) và khoản nợ nằm ngoài xử lý của tòa án. KAMCO đã mua lại với mức giá gần 18% so với giá trị thị trường đối với các khoản nợ có tài sản thế chấp, nhưng đối với khoản nợ không thế chấp thì chỉ 5,8%.

Ban đầu, KAMCO không thể xác định đúng mức giá mua. Nếu như trước tháng 7/1998, KAMCO trả tới 70-75% giá trị tài sản đảm bảo thì sau đó, con số này giảm xuống còn 45% trong công thức tính giá mua.

Phần lớn nợ của KAMCO mua lại xuất phát từ ngân hàng, tương ứng với 62,1% lượng tiền công ty này bỏ ra từ tháng 11/1997 đến tháng 11/2002. Tuy nhiên, giá trị mua lại nợ của ngân hàng cũng khá cao, trung bình 40% giá thị trường.

Để mua các khoản nợ này, KAMCO đã trả cho người bán trái phiếu được Chính phủ đảm bảo với kỳ hạn 5 năm. Trái phiếu này được niêm yết và giao dịch trên sàn chứng khoán Hàn Quốc với lãi suất thả nổi và trả theo từng quý. Nhưng yếu tố then chốt giúp KAMCO thành công, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), là tổ chức này đã tạo lập được một thị trường mua bán nợ. KAMCO đã sử dụng nhiều cách thức để thanh lý nợ như bán cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức đấu giá công khai, mời chào hợp tác, thậm chí là tự mình đi thu hồi nợ.

Kết quả mang lại khá mỹ mãn. Tỉ lệ phục hồi trung bình (tức giá trị thanh lý của KAMCO chia cho giá trị thị trường của các khoản nợ) lên đến 46,8% trong giai đoạn 1997-2002. Nghĩa là KAMCO xem như đã thu hồi được gần một nửa giá trị các khoản nợ xấu của hệ thống. Tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng cũng giảm từ mức 16,8% (tháng 3.1998) xuống còn 2,3% (tháng 12/2002). Còn nếu tính chung cho cả hệ thống tài chính, tỉ lệ này đã giảm từ mức 17,7% xuống còn 3,9%.

Hàn Quốc có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Chẳng hạn, cả hai có chung chiến lược tăng trưởng dựa trên các tập đoàn. Tín dụng theo hình thức chỉ định, phân phối chủ yếu cho những tập đoàn chủ lực và được cung cấp từ hệ thống ngân hàng do Chính phủ chi phối.

Mặc dù có một số điểm tương đồng về cơ bản, nhưng hoạt động của VAMC và KAMCO có một điểm khác biệt quan trọng. Đó là nguồn tiền để thực hiện việc mua lại nợ xấu.

Chính phủ Hàn Quốc đã chấp nhận bù lỗ cho KAMCO bằng tiền ngân sách. Còn ở Việt Nam, Tiến sĩ Võ Trí Thành cho biết, theo đề án thành lập VAMC, nguyên tắc của việc xử lý nợ là sẽ không sử dụng tiền ngân sách.

Về điều này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng đó là do những người soạn thảo đề án đang chịu một sức ép: không sử dụng tiền thuế của dân để hạn chế vấn đề lợi ích nhóm. Một nguyên nhân khác, theo ông Thành, có thể là do ngân sách nhà nước không đủ.

Vậy tiền sẽ đến từ đâu? Từ tổ chức đầu tư trong nước, bên ngoài, hay tổ chức quốc tế? Trên thực tế, ngay cả Hàn Quốc cũng buộc phải nhận tiền hỗ trợ từ IMF. Thái Lan và Indonesia cũng vậy.

Nhưng điều kiện vĩ mô Hàn Quốc lúc bấy giờ và Việt Nam hiện tại có quá nhiều khác biệt. Và có vẻ như Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng cách thức “lấy mỡ nó rán nó” để xử lý các khoản nợ xấu của ngân hàng. Nghĩa là các ngân hàng vẫn tự quản lý nợ của mình, còn VAMC sẽ tài trợ thêm tiền để ngân hàng thực hiện. Số tiền này phải được trả lại cho VAMC trong 5 năm. Điều này khiến một số người nghi ngờ tính hiệu quả của VAMC, khi các công ty quản lý nợ xấu trên thế giới đều mua đứt bán đoạn các khoản nợ.

Ngược lại, trong trường hợp Chính phủ Việt Nam có đủ tiền, bài toán cần giải là những công thức tính giá mua bán lẫn cách thức phân loại nợ xấu nào sẽ mua.

Dù sao đi nữa, con đường thành lập VAMC là đúng vì các quốc gia trên thế giới đều đã thực hiện. Và điều kiện để VAMC hoạt động là Chính phủ phải tạo được niềm tin cho công chúng.

Để tạo lập niềm tin, điều trước tiên là làm rõ con số nợ xấu thực sự. “Đó cũng là yếu tố đầu vào quan trọng trong tiến trình xử lý nợ xấu”, ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách công Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhận xét.
Nguồn: Nhipcaudautu / VnEconomy
, , ,

“Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trong nhập hàng Việt Nam”

Ngân hàng HSBC nói đến năm 2030, Trung Quốc sẽ thay thế Mỹ ở vị trí khách hàng lớn nhất của Việt Nam...

Theo HSBC, tuy Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng vào năm 2030 Mỹ và Nhật Bản vẫn sẽ vẫn nằm trong danh sách ba đối tác xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam.

Báo cáo mới nhất của ngân hàng HSBC về kết nối giao thương, được công bố hôm 28/3, đã đưa ra những nhận định đáng chú ý về thương mại Việt Nam, đặc biệt là dự báo Trung Quốc sẽ thay thế Mỹ ở vị trí khách hàng lớn nhất.

Báo cáo nhận định rằng năm vừa qua, các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam đã vượt qua suy thoái kinh tế toàn cầu "một cách xuất sắc" khi kuất khẩu hàng hóa tăng khoảng 20% trong năm 2012.

Trái ngược với hầu hết các nước láng giềng ở châu Á mới nổi, năm ngoái Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng xuất khẩu hai con số, bất chấp tình hình suy thoái toàn cầu. Giá trị xuất khẩu tính theo USD tăng khoảng 20% trong năm 2012 nhờ vào ngành viễn thông, nhựa, quần áo và may mặc.

"Tốc độ tăng trưởng GDP trên mức 5%/năm sẽ được duy trì bền vững trong trung hạn khi thị trường nội địa đang khởi sắc thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI; khi du lịch và xuất khẩu nông sản hỗ trợ cải thiện ngành công nghiệp và và khi những nhà máy năng lượng mới chấm dứt tình trạng thiếu hụt năng lượng tồn tại lâu năm. Sự mở rộng các các mặt hàng xuất khẩu công nghiệp, lượng dự trữ cao hơn và một thị trường nội địa lớn hơn cũng có thể làm giảm tình trạng biến động của tăng trưởng", báo cáo viết.

Theo HSBC, đáng chú ý là đến năm 2030, Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Xuất khẩu nội vùng (trừ Nhật Bản) đến năm 2020 được dự báo sẽ tăng trưởng hơn 15%/năm. Ngoài Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia sẽ trở thành những đối tác xuất khẩu ngày càng lớn của Việt Nam.

Về trung hạn, kế hoạch mở rộng Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Agreement) hướng tới thuế suất bằng 0 đối với tất cả hàng hóa vào năm 2015 cũng sẽ là một nhân tố khác hỗ trợ thúc đẩy giao thương giữa Việt Nam với các nền kinh tế khác trong khu vực.

Tuy nhiên, Mỹ và Nhật Bản sẽ vẫn là nguồn nhu cầu quan trọng đối với Việt Nam và sẽ vẫn nằm trong số ba thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam vào năm 2030. Kể từ khi ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ năm 2000 và gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) năm 2007, Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp lớn thứ hai, chỉ sau Trung Quốc, cho thị trường Mỹ về các mặt hàng quần áo và giày dép.

Cùng với tăng trưởng xuất khẩu mạnh, Việt Nam cũng sẽ ngày càng trở thành một nước nhập khẩu lớn; vừa nhập tư liệu sản xuất để đáp ứng nhu cầu hạ tầng cơ sở lớn của mình vừa nhập khẩu hàng tiêu dùng để đáp ứng một thị trường tiêu dùng đang tăng trưởng nhanh. Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Bangladesh sẽ là các đối tác nhập khẩu hàng hoá tăng trưởng nhanh nhất trong thập niên này cho đến 2030.

Trong vài năm gần đây, Việt Nam đã có thể tăng trưởng lĩnh vực dệt may nhanh chóng nhờ vào mức lương cạnh tranh. Thực tế, ngành quần áo và may mặc sẽ góp phần khoảng 1/5 tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam từ 2013 đến 2015. Nhưng Việt Nam cũng đang phát triển mạnh lĩnh vực viễn thông và ngành này sẽ đóng góp khoảng 10% tăng trưởng xuất khẩu trong 20 năm tới.

Tuy Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng vào năm 2030 Mỹ và Nhật Bản vẫn sẽ vẫn nằm trong danh sách ba đối tác xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, phản ánh sự đa dạng chủng loại các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.

"Việt Nam có vị trí thuận lợi để tận dụng được lợi thế không thể tranh cãi của khu vực châu Á đang nổi: khu vực giao thương năng động nhất trên thế giới. Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Bangladesh và Hàn Quốc sẽ nằm trong số mười thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Việt Nam trong hai mươi năm tới", báo cáo viết.

Trong khi đó, tăng trưởng xuất khẩu sang các nước châu Âu (trừ Nga) dự kiến sẽ đạt mức trung bình gần 10%/năm từ năm 2013 đến 2020. Tăng trưởng xuất khẩu đến Úc, New Zealand và châu Đại Dương sẽ hồi phục mạnh trong dài hạn và sẽ đạt mức trung bình 10%/năm từ năm 2016 đến 2020. Xuất khẩu sang châu Mỹ Latin sẽ tăng trưởng trung bình hơn 10% từ năm 2013 đến 2020 và Brazil sẽ là đối tác xuất khẩu năng động nhất của Việt Nam trong khu vực này.

Vùng châu Phi cận Sahara cung cấp một thị trường nội địa lớn với nhu cầu nhập khẩu lớn về tư liệu sản xuấtcho sự phát triển cơ sở hạ tầng và về các sản phẩm tiêu dùng cho thị trường trong nước. Châu Phi cận Sahara cung cấp các triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ trong 20 năm tới, mặc dù từ một nền tảng tương đối thấp. Tăng trưởng xuất khẩu sang khu vực này dự báo sẽ phục hồi từ mức 8,8%/năm từ năm 2013-2015 đến trung bình hơn 12%/năm từ năm 2016-2020.
Nguồn: VnEconomy

26 tháng 3, 2013

,

97 tỷ USD vốn FDI cho Việt Nam sau 25 năm

Con số này bằng khoảng 47% lượng vốn mà các nhà đầu tư cam kết mang tới. Sau 25 năm mở cửa thu hút, dòng vốn ngoại được cơ quan quản lý đánh giá đã thể hiện vai trò tích cực nhưng chưa được như kỳ vọng.

Tháng 12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài ra đời đã khai nguồn cho dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) - một đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế suốt hơn 2 thập kỷ tiếp theo. Tổng kết trước thềm Hội nghị 25 năm đầu tư nước ngoài ngày 27/3, Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư - Bùi Quang Vinh nhận định dòng vốn cũng như khu vực FDI đã thể hiện "vai trò tích cực" trong thành tựu tăng trưởng, phát triển của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu, nộp ngân sách và tạo việc làm. Tuy vậy, đại diện cơ quan quản lý cũng thừa nhận việc thu hút FDI chưa đạt kỳ vọng.

Đến tháng 8 năm 2012, cả nước có gần 14.100 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt khoảng 207 tỷ USD. Tuy vậy, lượng giải ngân thực tế mới đạt khoảng 97 tỷ USD, tương đương khoảng 47% số cam kết. FDI tăng từ 20,7 tỷ USD trong giai đoạn 1991 - 2000 lên gần 70 tỷ USD trong những năm 2001 - 2011, nhưng tỷ trọng so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại giảm từ hơn 24,3% xuống còn 22,75% trong cùng giai đoạn.

Giai đoạn
(năm)
Vốn FDI thực hiện
(tỷ đồng)
% vốn FDI thực hiện
so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội
1991 - 200020,6724,32
2001 - 201169,4722,75

Ở khía cạnh tích cực, cơ quan quản lý nhận định các doanh nghiệp FDI có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với mức tăng GDP chung cả nước. Đây cũng là khu vực đóng góp lớn vào xuất khẩu khi nâng tỷ trọng từ 45,2% (2001) lên tới 64% (2012) tổng giá trị hàng hóa xuất cảng của cả nước. Các doanh nghiệp cũng góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo và mở rộng thị trường.

Đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách cũng tăng từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 - 2010). Năm 2012, nộp ngân sách của các doanh nghiệp(không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm gần 12% tổng thu.
Số liệu: Bộ Kế hoạch & Đầu tư
Với gần 60% vốn tập trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, khu vực FDI tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng... Đồng thời, góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu...
Hiện, khu vực FDI tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3 - 4 triệu lao động gián tiếp. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, khu vực này có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về công nghệ, khu vực FDI sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy và dệt may, giày dép, trong đó viễn thông, dầu khí được đánh giá có hiệu quả nhất.

Tuy nhiên, qua 25 năm, ngoài những mặt đạt được, khu vực kinh tế FDI cũng còn nhiều hạn chế, với hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; có quá ít dự án về cơ sở hạ tầng; tỷ trọng dự án trong nông - lâm - ngư nghiệp rất thấp và có xu hướng giảm dần trong khi đây là những ngành Việt Nam có thế mạnh. Trong dịch vụ, các dự án bất động sản quy mô lớn còn cao song nhiều trong số dự án này chậm triển khai, gây lãng phí về đất đai, vay vốn trong nước.

Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, vốn FDI hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm gây mất cân đối vùng miền, không đạt được mục tiêu hướng đầu tư nước ngoài vào địa bàn khó khăn. Các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao không tạo ra lợi thế khác biệt cho từng địa phương và vùng lãnh thổ.

Gần 60% vốn FDI tập trung trong ngành công nghiệp và xây dựng. Ảnh:CP
Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ yếu từ châu Á, nhà đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ cao. Hiện mới chỉ thu hút được trên 100 trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới. Tỷ lệ vốn thực hiện thấp so với vốn đăng ký, chỉ khoảng 47,2%.

Bên cạnh đó, trên 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc hậu. Theo đánh giá của Bộ, chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều ngang - giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ. Công nghệ thấp dẫn đến các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu thực hiện việc gia công. Một số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng những khâu sử dụng công nghệ cao lại không thực hiện ở Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp Việt Nam tạo ra gia trị gia tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.

Đánh giá về tạo công ăn, việc làm, theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tỷ lệ việc làm mới do khu vực FDI tạo ra không tương xứng (chỉ chiếm 3,4% trong tổng số lao động có việc làm năm 2011). Thu nhập bình quân theo tháng của người lao động ở khu vực doanh nghiệp FDI chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nhu cầu về nhà ở, đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc mà chưa đáp ứng được.

Ngoài việc có hiện tượng chèn lấn doanh nghiệp trong nước, một số doanh nghiệp FDI có biểu hiện áp dụng các thủ thuật chuyển giá tinh vi như nâng khống giá trị góp vốn (bằng máy móc, thiết bị, bản quyền…), giá trị mua bán nguyên vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ, phí quản lý, tiền bản quyền, chi phí bảo lãnh, cho vay, trả lương, đào tạo, quảng cáo, nhà thầu, chuyển nhượng vốn… tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏi liên doanh, doanh nghiệp trở thành 100% vốn nước ngoài.

Nguồn: VnExpress
,

Tăng trưởng GDP quý 1/2013 ước đạt 4,89%

Mặc dù đạt tốc độ tăng cao hơn quý 1/2012, nhưng GDP quý 1 năm nay vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011 và 2010...

Tăng trưởng GDP quý 1 qua các năm - Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tăng trưởng GDP quý 1/2013 ước đạt 4,89%, cao hơn mức tăng 4,64% của quý 1/2012. 

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 2,24%; khu vực công nghiệp tăng 4,95%; xây dựng tăng 4,79%; dịch vụ tăng 5,65%.

Mặc dù đạt tốc độ tăng cao hơn cùng kỳ năm ngoái, nhưng GDP quý 1 năm nay vẫn thấp hơn so với tăng trưởng GDP quý 1/2011 (tăng 5,53%) và quý 1/2010 (tăng 5,84%).

Cũng theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 3/2013, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 31,9% so với tháng trước và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2012.

Tính chung cả quý 1/2013, IIP tăng 4,9% so với cùng kỳ, trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 2,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,4%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện tăng 8,5%;... 

Nguồn: VnEconomy

24 tháng 3, 2013

, ,

Khôi phục BĐS mất 6 năm, giảm 60% giá trị

Mức thu nhập bình quân đầu người thấp trong khi đó giá nhà tại Việt Nam lại cao nhất nhì khu vực khiến cho không ít chuyên gia bất động sản nước ngoài phải giật mình.

Sửng sốt giá nhà

Mới đây trong một cuộc trao đổi với Vietnamnet, ông Sam Cucurullo, chuyên gia Quản lý bất động sản khu vực Châu Á Thái Bình Dương cho hay, khi đi trên đường, mọi người chỉ cho ông một số căn nhà rồi nói giá của căn nhà đó và tôi thấy rất sững sờ: “Tôi không hiểu, người Việt Nam thu nhập có mức bình quân như vậy mà lại mua được một căn nhà như thế.”

Ông Sam cho rằng, bất động sản Việt Nam tương tự như Ấn Độ, thu nhập bình quân của người dân thấp nhưng lại có giá nhà cao và đa số người dân không đủ sức để mua nhà. Ở một số nơi như Bắc Kinh, Thượng Hải (Trung Quốc) và Tokyo (Nhật Bản) có giá bất động sản rất cao, nhưng mức lương của họ cũng tương đối cao nên họ có thể mua được bất động sản. Khi nền kinh tế khó khăn, thu nhập của người dân giảm sút và họ không có khả năng chi trả cho những khoản lớn như bất động sản. 


Theo báo cáo của Ủy ban kinh tế Quốc hội, giá bất động sản ở các thành phố lớn của Việt Nam thuộc loại cao trên thế giới trong khi thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới. Giá nhà đất tăng lên 100 lần trong vòng 20 năm. Giá nhà ở trung bình cao hơn 25 lần so với thu nhập bình quân của người lao động. Giá nhà ở lớn hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển và gấp 10 lần so với các nước chậm phát triển. Trong khi đó, so với thu nhập, giá bất động sản trung bình ở các nước châu Âu chỉ bằng 7 lần, Thái Lan 6,3 lần, Singapore là 5,2 lần.

Thống kê của một đơn vị tư vẫn cũng cho thấy, giá nhà ở Việt Nam đang ở mức cao, bất hợp lý. Đơn cử, khu vực phố cổ giá nhà đắt nhất là ở các căn góc mặt phố tại các khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đôi khi đắt ngang giá nhà ở Tokyo hay Paris. Giá 1m2 nhà đất tại các phố như Hàng Gai, Cầu Gỗ hay Hai Bà Trưng có thể lên tới mức 21.000 - 27.000USD/m2.

Ông Sam cho rằng, có nhiều lý do dẫn đến tình trạng bất động sản gặp phải nhiều vấn đề khó khăn như hiện nay. Trong đó một trong những nguyên nhân chính là nguồn cung quá lớn, vượt sức hấp thụ của thị trường. Chuyên gia này lấy dẫn chứng, một dự án tại Hà Nội có tới 1.500 căn trong khi đó số người đến ở rất ít. “Theo tôi, người ta nên xây từng giai đoạn, có thể gối đầu hoặc dần dần. Đây cũng là giải thích vì sao thị trường Việt Nam lại như thế, nguồn cung lớn, chủ đầu tư xây rất ồ ạt trong khi mức thu nhập của người dân rất thấp” ông Sam nói.

Lời giải cho thị trường

Đưa ra giải pháp cho thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay, ông Sam cho rằng, có lẽ trước mắt Việt Nam nên dừng xây dựng các dự án để thị trường có thể hấp thụ hết nguồn cung hiện tại. Lý do khác là lãi suất quá cao dẫn tới tình trạng nợ xấu nhiều.

Chuyên gia này cho rằng, việc định giá về bất động sản là cần thiết. Giá cả bất động sản bị đẩy cao là do bất hợp lý về cung cầu. Bởi vậy, nếu quản lý bất động sản tốt thì sẽ kéo giá nhà xuống thấp.

“Giá cả hình thành dựa trên quan hệ cung cầu, do thị trường quyết định. Nhưng cũng cần có một cơ quan thẩm định giá của Chính phủ để xác định rõ mức giá thực là bao nhiêu. Đơn cử như những người đang nắm giữ một khoản nợ xấu, thì họ cần có một ý kiến chính xác để biết khoản nợ xấu hay bất động sản đó được định giá thế nào”, ông Sam nói.


Ông John Sheehan, thành viên Tổ chức giám định bất động sản Hoàng gia (FRICS) của Anh cho rằng, có sự can thiệp của Chính phủ. Thị trường bất động sản không đủ khả năng để tự cứu mình. Sự can thiệp của Chính phủ càng lớn thì sự khôi phục của thị trường càng nhanh.

Thời gian trung bình để khôi phục thị trường bất động sản sau khi có những biện pháp điều chỉnh trung bình khoảng 6 năm và bất động sản sẽ mất 60% về mặt giá trị. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn phủ nhận thường kéo dài khoảng 2 năm. Còn những vấn đề về nợ xấu trên thị trường kéo dài 4 năm.

Theo quan điểm của ông John Sheehan, Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu tiên là giai đoạn phủ nhận, phải qua được giai đoạn này và chấp nhận bỏ ra chi phí thực tế để xử lý nợ xấu thì sau đó mới có thể xác định được giai đoạn phục hồi mất bao lâu.

Đưa ra lời khuyên cho người mua nhà, ông John chia sẻ quan điểm cá nhân: “Trong thời điểm này tôi sẽ không mua nhà nếu không có nhu cầu thực cần nhà ở do thị trường đang trong giai đoạn phủ nhận. Sẽ còn nhiều điều chỉnh, sau đó mới đến giai đoạn xử lý nợ xấu, kế đó mới tới giai đoạn phục hồi, dần đi vào ổn định và quay về giá trị thật. Tôi sẽ chờ đợi đến lúc đó. Còn nếu đầu tư vào nhà ở hiện nay, có thể mức giá không phải là thật.”
Nguồn: Vef
,

Tại sao nhiều nền kinh tế cứ mãi “mới nổi”?

Năm 2013, Trung Quốc đặt mục tiêu tăng trưởng xuất nhập khẩu 10%. Trong ảnh: công nhân làm
hàng xuất khẩu sang châu Âu tại một phân xưởng may ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy - Ảnh: Reuters
TTCT - Trong số cuối năm 2012 trên chuyên san ngoại giao Foreign Affairs, một tác giả đã bàn về những nền kinh tế cứ mãi “mới nổi” (1). Trước đó, một nghiên cứu của Ngân hàng Credit Suisse cũng đã phân tích “tại sao một số nước thành công, một số nước khác lại thất bại?” (2).

Những háo hức về một “thế kỷ 21 của châu Á” cũng đang dần qua đi trước nan đề “giậm chân tại chỗ” của một số nước trong khu vực. Một lần nữa người ta đang xem xét lại những mặt được, chưa được hoặc không được để tìm lời giải mới cho sự phát triển.

Tăng trưởng nhanh, nhưng khoảng cách vẫn còn

Trên Foreign Affairs, Ruchir Sharma - trưởng bộ phận “các thị trường mới nổi và vĩ mô toàn cầu” của Tập đoàn Morgan Stanley Investment Management, và là tác giả của “Những quốc gia đột phá kinh tế đang đi tìm những phép lạ kinh tế mới” (3) - đã chỉ ra rằng “trong số 180 nước được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) theo dõi, chỉ có 35 nước là phát triển”. Trong giai đoạn từ 1950-2000, khoảng cách thu nhập bình quân đầu người giữa các nước tiên tiến và các nước đang phát triển cứ ngày càng xa hơn, ngoại trừ vài nhóm nhỏ các nước dầu hỏa vùng Vịnh, miền nam châu Âu sau Thế chiến thứ hai và các “con hổ” Đông Á. 

Chỉ từ sau năm 2000, các thị trường đang nổi lên đã bắt đầu rượt đuổi, song đến năm 2011 khoảng cách thu nhập đầu người giữa các nước giàu và các nước đang phát triển quay trở lại mức của những năm 1950. 

Nếu lấy bất kỳ một thập niên nào từ sau năm 1950 làm mốc quan sát cũng sẽ thấy chỉ 1/3 số thị trường mới nổi là đã có thể tăng trưởng với tỉ lệ 5%/năm hoặc hơn, không đầy 1/4 có thể giữ được tốc độ tăng trưởng này qua hai thập niên, và chỉ 1/10 giữ vững được tăng trưởng đó qua ba thập niên. Chỉ có Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Hong Kong duy trì được tỉ lệ tăng trưởng trong bốn thập niên. Trừ các nhóm nước và vùng lãnh thổ đó ra, đại đa số còn lại cứ thế mà giẫm chân tại chỗ! 

Nhấn mạnh vấn đề ở các nước mới nổi, tác giả khuyến cáo không quá khó để tăng trưởng với tốc độ nhanh khi bắt đầu từ một khởi điểm thấp, và rằng đem tốc độ tăng trưởng nhanh đó ra so với các nước ở những mức thu nhập khác thật là vô nghĩa. Tác giả khuyên “những ước vọng đó cần phải được đưa về với chân chạm đất” và rằng những ai đang đổ thừa cho suy thoái toàn cầu từ thập niên trước và thầm mong rằng rồi thì “những ngày hạnh phúc cũng sẽ quay trở lại” sẽ phải thất vọng! Những gì mà tác giả cảnh báo không xa lạ gì thuật ngữ “cái bẫy của nền kinh tế có thu nhập trung bình”.

Dự báo sau của tác giả rất đáng chú ý: trong thập niên tới, Mỹ, châu Âu và Nhật có lẽ sẽ tăng trưởng chậm. Thế nhưng, tình trạng “chậm lụt” này của các nước ấy lại ít đáng lo so với tình hình tăng trưởng chậm còn 3% hoặc 4% sắp tới của Trung Quốc, khi mà nền kinh tế này tiếp tục trưởng thành. Đơn giản là do dân số Trung Quốc quá đông và già đi quá nhanh để cho kinh tế có thể tăng trưởng (nhanh) như đã từng tăng trưởng.
Với hơn 50% dân số sống trong các thành phố, nay Trung Quốc đang đến gần điều mà các nhà kinh tế học gọi là “điểm bước ngoặt Lewis” (“Lewis turning point”, luận điểm của nhà kinh tế học William Arthur Lewis (1915-1991) chỉ điểm mốc mà số lao động thặng dư từ khu vực kinh tế tự cung, tự cấp (nông nghiệp) được hấp thụ hoàn toàn vào lĩnh vực hiện đại, để rồi tích lũy vốn tư bản cùng với quá trình tăng lương). Đây là kết quả của cả hai quá trình di dân ồ ạt đến các thành phố trong hai thập niên qua và quá trình cạn kiệt lực lượng lao động mà chính sách “một con mà thôi” đã tạo ra. 

Sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc phần nào đã do thế hệ lao động trẻ bao la này “kéo”. Song các điều tra dân số cho thấy lợi thế này đã qua rồi và mặt khác, vấn đề đặt ra là làm sao cung cấp cho thế hệ lao động mới những kỹ năng cần thiết để có thể cạnh tranh toàn cầu, cũng như làm sao các chính phủ (lần lượt ở Trung Quốc) có thể đề ra những chính sách đúng đắn để tạo việc làm.

Bí quyết để thành đạt

Làm sao để một quốc gia phát triển thành công chứ đừng cứ mãi mới nổi? Nghiên cứu của Ngân hàng Credit Suisse khẳng định rằng sự thăng tiến từ ngưỡng thu nhập thấp sang thu nhập trung bình, rồi sang thu nhập cao không hề là tự động và đa số các nền kinh tế mới nổi đều đã thất bại không thể vươn qua được việc khai thác sức lao động rẻ và tài nguyên. Những trường hợp suy thoái tụt lui và thất bại trong việc đi đến tiến bộ vẫn thường thấy nhiều hơn là những trường hợp thành công. 

Theo nghiên cứu của Credit Suisse, để có cơ may thành công trong việc vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” cần phải hội đủ các yếu tố tương tác lẫn nhau sau đây: a/ chất lượng cao và nhanh chóng cải tiến của vốn con người; b/ khả năng sáng tạo đổi mới tiến đến chuỗi giá trị (qua đào tạo kỹ thuật ngày càng ở trình độ cao, nỗ lực R&D - hoạt động nghiên cứu và phát triển - ngày càng nhiều hơn); c/ hạ tầng cơ sở vật chất cao cấp hơn; d/ cải thiện bầu không khí kinh doanh và tính minh bạch trong các quy định pháp luật; e/ diễn biến dân số thuận lợi. 

Nghiên cứu dự báo trong thập niên tới, trong số các thị trường mới nổi, chỉ có Trung Quốc và Malaysia (ít hơn) là có vài cơ may thành công. Trung Quốc hội đủ hầu hết các yêu cầu trên (như chất lượng vốn con người, thành tích sáng tạo, hoạt động R&D ngày càng cao, hạ tầng cơ sở vật chất). Tuy nhiên, Trung Quốc vấp phải hai thách thức gồm: bầu không khí kinh doanh và tình trạng thiếu “cởi trói” các ngành công nghiệp then chốt; tình trạng đầu tư thái quá cứ tăng do chính phủ cứ (thích) chi tiêu và đầu tư vốn cố định. 

Theo nghiên cứu, chỉ trong năm năm hay mười năm tới là sẽ có thể thấy Trung Quốc “vượt vũ môn” được hay không. Dự báo hiện nay là Trung Quốc có cơ may, song xác suất thành công không hơn 50%. Còn những thách thức đối với Malaysia là thành tích sáng tạo nghèo nàn, R&D thấp, bầu không khí kinh doanh “ỉu xìu”.

Tại sao nghiên cứu của Credit Suisse lại nhấn mạnh rằng chất lượng của vốn con người là yêu cầu đầu tiên của quá trình ra khỏi “vũ môn” thu nhập trung bình? Đơn giản là ở các nước công nghiệp, hiệu suất lao động được tính GDP/nhân viên, GDP/giờ lao động. Đây là những gì xa lạ ở các nước mà người công chức có mặt cho có, sức lao động chưa được đếm theo đầu người mỗi giờ, còn mơ hồ áng chừng một năm chỉ trị giá bấy nhiêu...

Thật trùng hợp, Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12 vừa qua giữa Chính phủ Việt Nam và các đối tác phát triển đã tập trung vào việc đặt nền móng cho tăng trưởng bền vững của Việt Nam. Các đại biểu đã thống nhất rằng đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển giáo dục và kỹ năng, đảm bảo chính sách đất đai hợp lý là những ưu tiên chính giúp Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thành công. 

Đặc biệt, một trong những chủ đề thảo luận chính là làm sao đảm bảo được chất lượng giáo dục và kỹ năng cao, điều kiện tiên quyết giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế công nghiệp hiệu quả là nguồn nhân lực có kỹ năng cao (4).
____________
(1): http://www.foreignaffairs.com/articles/138219/ruchir-sharma/broken-brics?page=show
(2): Viktor Shvets, “Why some countries succeed and others fail?”, Credit Suisse
(3): “Breakout Nations: In Pursuit of the Next Economic Miracles”. Xem định nghĩa trong “Breakout Nations: An Interview with Ruchir Sharma”
(4): Thông cáo báo chí Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam, ngày 10-12-2012
 Nguồn: Tuổi Trẻ
,

Lo cải cách chững lại

PGS.TS Edmund Malesky - Ảnh: Việt Dũng
PGS.TS Edmund Malesky (Đại học Duke, Mỹ), trưởng nhóm điều tra Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), trao đổi với TTCT về những điều mà ông cho rằng cần quan tâm hơn cả trong bộ chỉ số này ngay sau khi PCI năm 2012 vừa được công bố.

PGS.TS Edmund Malesky cho biết báo cáo PCI 2012 phản ánh tình hình doanh nghiệp (DN) và đánh giá của họ sau một thời gian dài khó khăn. Đây cũng là năm đầu tiên PCI có những nghiên cứu về DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), vẽ một bức tranh tổng thể với nhiều điểm trái ngược nhau: nhiều tỉnh bỏ nhiều công sức thu hút FDI và muốn biết có thể làm gì tốt hơn, ngược lại có tỉnh như Hải Dương và Đồng Nai bối rối vì làm phật lòng các nhà đầu tư nội vì quá nỗ lực thu hút FDI. 

Mới cải thiện những điều dễ

* Ông nghĩ thế nào khi năm nay, những tỉnh “ngôi sao” như Đà Nẵng lại đồng loạt tụt hạng? 

- Tôi nghĩ một số tỉnh đã quên tại sao họ từng là ngôi sao. Lúc trước họ đã rất nỗ lực cải tiến, nhưng giờ họ ngừng gắng sức hơn nữa. Thứ hai, một số tỉnh muốn đẩy mạnh cải cách nhưng họ vấp phải các vấn đề cải cách khó hơn. Ví dụ, cải thiện đăng ký kinh doanh không khó, giảm thanh tra kiểm tra cũng vậy. Cái khó là tạo ra những thể chế để giảm chi phí không chính thức, để giới kinh doanh cảm thấy an tâm với sở hữu trí tuệ... Tuy nhiên, tôi cho rằng việc các tỉnh không tiếp tục cải cách một phần do chính sách từ trung ương. Việc chính quyền trung ương chưa thể tiếp tục cải cách cũng tạo ra những nút thắt nhất định. Nếu chính quyền trung ương tạo ra những tín hiệu phù hợp cho thấy họ sẵn sàng tiến tới thì các tỉnh cũng sẽ có thêm động lực đi tiếp. 

* Liệu có phải các tỉnh đã đạt tới giới hạn cải cách? Tại sao cải cách lại bị chững lại?

- Tôi cho rằng ở VN, chưa tỉnh nào đạt tới giới hạn cải cách. Họ vẫn còn khả năng cải cách hơn nữa. Tôi nghĩ có một vài cách lý giải tại sao tốc độ cải thiện lại bị chậm lại: trong vài trường hợp, một số người nắm quyết định cải cách vẫn được lợi từ tình hình hiện tại, hoặc nếu bản thân họ không có lợi thì còn những quan chức khác vẫn có lợi và họ phải đánh đổi với nhau. Thứ hai là vấn đề mới cần cải cách phức tạp hơn: ở giai đoạn thứ nhất chỉ đơn giản là rút bớt sự tham gia của Nhà nước, việc này dễ hơn tạo ra các thể chế mới.
Bản thân tôi không coi trọng con số thứ hạng của từng tỉnh. Điều thật sự đáng quan tâm là những chỉ số thành phần của PCI nói lên điều gì: bao nhiêu phần trăm DN đang phải chi tiền lót tay, bao nhiêu cho rằng họ có thể tin tưởng vào phán quyết của tòa án... Các tỉnh nên phân tích kỹ từng thành tố đó sẽ biết mình cần cải thiện ở đâu, cần làm gì.

Tham nhũng đe dọa doanh nghiệp

Hoạt động đăng ký kinh doanh được đánh giá là nhiều cải thiện tốt (ảnh chụp tại phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch - đầu tư TP.HCM) - Ảnh: Thanh Đạ
* Theo báo cáo PCI 2012, khoảng 41% DN đưa hối lộ để giành hợp đồng với cơ quan nhà nước. Theo ông, tỉ lệ này có phải là cao? 

- Đương nhiên con số này là cao. Nhưng chỉ trích duy nhất mà tôi nghe được từ các nhà nghiên cứu VN là con số này... quá thấp so với thực tế. Có thể có lý do kỹ thuật khiến chỉ số này phản ánh chưa đúng mức. Nhiều DN thuê các công ty khác để đấu thầu nên đôi khi họ vẫn đưa hối lộ mà không trực tiếp làm việc đó. Chúng tôi chỉ tính được các công ty trực tiếp đưa hối lộ chứ không tính hết được số DN đưa hối lộ gián tiếp.
Tất nhiên, số liệu này chưa thể khẳng định hối lộ là tăng hay giảm. Muốn làm được vậy thì chúng ta phải theo dõi một số DN nhất định. Nhưng có thể nói chắc chắn là tham nhũng vẫn tồn tại trước mắt các bạn. 

* Một số liệu khác từ PCI cho thấy hơn 50% DN nói chi phí lót tay là phổ biến và chiếm tới 6,5% doanh thu - một con số quá lớn, mỗi năm đến cả tỉ USD. Nó ảnh hưởng ra sao đến sự vươn lên của DN?

- Con số này đã giảm nhiều so với các năm trước nhưng vẫn là con số quá lớn. Rõ ràng đây là chi phí mà lẽ ra các DN không cần trả, nó làm giảm lợi nhuận và khiến việc kinh doanh rủi ro hơn. 

Tôi thực hiện khảo sát tương tự ở một vài nước khác và thấy có điều đặc biệt ở VN là khoản lót tay này... có thể dự tính được. Đấy cũng là nguyên nhân khiến nhiều DN phải duy trì hai hệ thống sổ sách kế toán. Có điều, khi một DN ở VN đưa hối lộ thì thường họ sẽ nhận được dịch vụ cần có, chẳng hạn khi hối lộ để có giấy phép thì sẽ có giấy phép. 

Ở đây, chỉ trích các cán bộ nhà nước là không đủ. Một số DN đưa hối lộ vì hệ thống quan liêu quá phiền hà nhưng cũng có người hối lộ để kiếm tiền, như trường hợp cạnh tranh giành giấy phép trước đối thủ. Nếu anh kiếm được quyền độc quyền trong một ngành công nghiệp được bảo hộ thì cũng đáng hối lộ!
Doanh nghiệp thất vọng

* Nhiều tỉnh thất vọng vì họ đã cải cách nhiều nhưng cứ tụt hạng. Ông có cho rằng chỉ số PCI năm nay cho thấy sự thất vọng của DN?

- PCI chỉ phản ánh những gì giới DN cảm nhận, tức là cộng đồng DN vốn đã thất vọng rồi, PCI chỉ làm nhiệm vụ nắm bắt được sự thất vọng đó. Tôi cho rằng PCI năm nay cho VN thấy rằng DN - những người làm ra của cải - đang thấy cải cách đi xuống và họ cần sự cải cách tốt hơn để vươn lên.

Tôi cũng chia sẻ với sự thất vọng về vị trí trong bảng xếp hạng của nhiều tỉnh. Báo cáo PCI công nhận tình hình kinh tế khó khăn mấy năm qua đã tô đậm thêm gam màu ảm đạm trong cảm nhận của DN. Nhưng có một lý do khác là khi một tỉnh bắt đầu chính sách mới, cải cách mới... thường mọi người đều hân hoan. Nhưng khi những thay đổi đó không đem lại hiệu quả như kỳ vọng thì dẫn tới sự thất vọng là đương nhiên.

* So với các nước mà ông có nghiên cứu, ông nhận định thế nào về tiến độ cải cách của VN?

- Nếu câu hỏi này đặt ra năm năm trước, tôi sẽ nói VN rất tuyệt, cải cách diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, Chính phủ dường như biết mình đang làm gì... Nhưng cải cách có vẻ chững lại một chỗ vài năm gần đây. Tôi lo là các nước khác như Philippines, Myanmar tiến hành cải cách nhanh hơn.

Nên cải cách tốt hơn để thu hút FDI

* Theo ông, có kết quả nào khi khảo sát DN FDI mà VN nên chú ý?

- Có tới 36% DN FDI khẳng định bất ổn vĩ mô là rủi ro lớn nhất họ gặp ở VN, tiếp theo là rủi ro hợp đồng, rủi ro chính sách và rủi ro lao động... Các biện pháp đối phó rủi ro của DN là liên doanh với DN địa phương, liên kết để vận động chính sách; tác động chính quyền địa phương để thay đổi cách thực hiện. Nhiều DN chỉ giải ngân một phần vốn, chờ đến khi thật sự tin tưởng mới làm tiếp, thậm chí sản xuất bộ phận chính của sản phẩm ở nước ngoài... 

Với kết quả điều tra này, nhóm nghiên cứu PCI kiến nghị VN cần giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư nếu muốn thu hút vốn vào khu vực sản xuất cao cấp.

* FDI năm 2012 vào VN giảm trong khi vẫn tăng ở những nước như Indonesia, Malaysia. Ông có lời khuyên gì cho VN?

- Một trong những lý do kinh tế VN đang vật lộn là vì các bạn chỉ có thể thu hút loại FDI cần chi phí lao động thấp nên sau này khi lương tăng, nhà đầu tư sẽ đi tìm nơi khác. Loại FDI mà VN đang muốn là có giá trị gia tăng cao, công nghệ cao, dịch vụ phức tạp... Nhưng cần thấy những cái các bạn cải cách chưa đủ để các nhà đầu tư đó vào. 

Các nhà đầu tư này cần con người chất lượng cao, bảo vệ sở hữu trí tuệ, không chấp nhận tệ quan liêu, chi phí không chính thức... Đó lại là những lĩnh vực nhiều năm qua VN ít cải thiện. Nếu cải cách của VN tiếp tục đi ngang thì các nhà đầu tư dùng nhân công rẻ sẽ chuyển đi còn các nhà đầu tư giá trị cao thì chưa tới.
Đó là điều đáng lo ngại nhưng không phải là không có giải pháp nếu lãnh đạo VN thật sự quyết tâm.

Cần quyết tâm làm việc khó

Qua chỉ số PCI, cải thiện lớn nhất thời gian qua là đăng ký kinh doanh, để đăng ký kinh doanh trung bình chỉ cần bảy ngày. Và chỉ khoảng 2% DN phải đợi hơn ba tháng để thực hiện bước này. Khâu này gần như không còn không gian để cải thiện hơn. Lĩnh vực thứ hai VN làm tốt là thanh tra, kiểm tra. 

Khi tôi mới nghiên cứu về VN, các DN thường bị cơ quan quản lý nhà nước tới kiểm tra 3-4 lần mỗi tháng, mỗi cơ quan lại yêu cầu giấy tờ khác nhau và đều đòi những khoản chi phí không chính thức, hoặc ra những quyết định phạt kỳ cục. 

Số lần trung bình hiện nay là 1 lần/năm. Nhưng tôi xin nhắc lại đó mới là phần dễ của công việc. Những việc cải cách yếu nhất chính là những việc khó hơn bao gồm: quyền tiếp cận đất đai, chi phí không chính thức... Chúng đang là thách thức với quyết tâm cải cách ở đất nước các bạn.
Nguồn: Tuổi Trẻ

22 tháng 3, 2013

, ,

AMC có thể xử lý một nửa nợ xấu ngân hàng

Công ty quản lý tài sản (AMC) dự kiến sẽ ra mắt trong tháng 4/2013...
AMC cùng những giải pháp bổ trợ khác có thể tạo một bước chuyển mới, căn bản trong yêu cầu xử lý nợ xấu.

Quá trình chuẩn bị thành lập công ty quản lý tài sản (AMC) đã gần xong, dự kiến sẽ chính thức ra mắt và đi vào hoạt động trong tháng 4/2013.

Theo thông tin đưa ra tại hội nghị triển khai các giải pháp tiền tệ vừa diễn ra ở Đà Nẵng, dự kiến trong tuần này Chính phủ sẽ ký quyết định phê duyệt đề án xử lý nợ xấu, ban hành nghị định về việc thành lập công ty quản lý tài sản quốc gia.

Còn theo tìm hiểu của VnEconomy, sau khi khung pháp lý được ban hành, AMC sẽ chính thức được thành lập ngay từ tháng 4/2013. Sau hơn nửa năm chuẩn bị với nhiều tranh luận, một giải pháp cụ thể và được xem là có sức nặng để xử lý nợ xấu ngân hàng sẽ chính thức hình thành.

Thông tin bước đầu cho biết, AMC dự kiến sẽ có quy mô vốn điều lệ là 500 tỷ đồng với 100% là của Nhà nước, là một tổ chức tài chính đặc thù trực thuộc quản lý của Ngân hàng Nhà nước.

Nguồn vốn chủ yếu của AMC dùng để mua nợ xấu các tổ chức tín dụng là qua phát hành trái phiếu. Loại trái phiếu đặc biệt này trở thành tài sản của các tổ chức tín dụng, được dùng để cầm cố vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước khi có nhu cầu. Hiện cơ cấu quy mô, kỳ hạn, cơ chế xác định lãi suất… của trái phiếu chưa có thông tin cụ thể.

Tuy nhiên, thông tin mà VnEconomy tìm hiểu cho hay, khi đi vào hoạt động, AMC có thể tham gia xử lý được khoảng 50% nợ xấu của hệ thống hiện nay. Trên cơ sở dữ liệu cập nhật gần đây, quy mô đó ước khoảng gần 100.000 tỷ đồng.

Nhưng quy mô và tỷ lệ xử lý nợ xấu không phải là mục tiêu chính, hay ưu tiên của AMC, mà là những khoản nợ xấu đáp ứng được các điều kiện đặt ra. Dự kiến trong thời gian đầu công ty này sẽ tập trung mua các khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản hoặc tài sản bảo đảm trong tương lai là bất động sản, có đầy đủ hồ sơ, giấy tờ hợp lệ.

Việc mở rộng phạm vi mua nợ và tài sản đảm bảo sẽ được xem xét trên cơ sở thực tiễn hoạt động sau đó.

Mục tiêu chính của AMC là góp phần xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng về mức an toàn; thêm khả năng tái tạo vốn cho họ để thúc đẩy nguồn cho vay đối với nền kinh tế.

Đi cùng với giải pháp này, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ triển khai các giải pháp khác có trong đề án xử lý nợ xấu mà dự kiến Thủ tướng Chính phủ sắp phê duyệt. Nhà điều hành cũng sẽ tiếp tục hoàn thiện các chính sách bổ trợ khác, như cơ chế phân loại nợ mới bắt đầu thực hiện từ tháng 6/2013; sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, dự kiến cũng sẽ được ban hành cuối tháng này.

AMC cùng những giải pháp tổng thể đó có thể tạo một bước chuyển mới, căn bản trong yêu cầu xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, nguồn tin của VnEconomy cho rằng, nợ xấu là một vấn đề của kinh tế vĩ mô, nên cần có thêm sự vào cuộc của các ban, ngành chức năng khác nữa.

Nguồn: VnEconomy
, ,

'Nên để thị trường bất động sản rơi tự do'

Lo ngại rót 30.000 tỷ đồng chỉ cứu được một số đối tượng, địa ốc có thể cầm máu nhưng vết thương khó lành, tiến sĩ Alan Phan cho rằng nên để thị trường tự điều chỉnh để sau 4-5 năm có thể quay về thời hoàng kim.
Theo tiến sĩ Alan Phan, giá nhà có thể giảm thêm 30-50% nữa. Ảnh: Hoàng Lan
 - Vấn đề giải cứu bất động sản đang gây tranh cãi, một bên nói cần tháo gỡ vì địa ốc liên quan đến hơn 80 ngành nghề, số khác cho rằng không nên bi kịch hóa. Ông nghiêng về ý kiến nào?

- Bất cứ phương án giải cứu nào cũng đòi hỏi một cái giá phải trả. Thứ nhất là tiền bạc, thứ hai là ảnh hưởng của nó tới các hoạt động khác. Nếu Chính phủ in tiền để giải cứu bất động sản thì hệ quả đầu tiên là lạm phát và toàn dân phải chịu. Các giải pháp khác như đánh thuế vào tài khoản tiết kiệm giống Síp làm thì chúng ta đã thấy hậu quả thế nào. Tôi cho rằng, với giải pháp nào, Chính phủ cũng như nền kinh tế Việt Nam sẽ phải trả cái giá đắt.

Quan điểm của tôi là hãy để cho bất động sản rơi tự do. Điều này sẽ làm giá nhà giảm thêm 30-50% để "bắt kịp" thu nhập của người dân và sẽ tạo ra một tầng lớp trung lưu có đủ điều kiện mua nhà. Người dân sẽ có thêm niềm tin và đây chính là một cú hích tạo ra sự kích cầu lớn. Giống như nền kinh tế Mỹ nợ ngập đầu nhưng vẫn rất năng động, bởi họ phải "kéo cày" làm việc tới 15-16 tiếng mỗi ngày để trả nợ.

Tất nhiên, khi để bất động sản rơi thì nợ xấu ngân hàng sẽ tăng, nhà băng có thể "chết" nhưng không sao cả vì số lượng ngân hàng hiện dư chứ không thiếu. Nếu một nửa nhà băng chết, một nửa sống thì cũng không sao, miễn là Chính phủ bảo đảm người dân sẽ không mất tiền. Ngân hàng chết, chứng khoán sẽ tụt nhưng sau đó niềm tin sẽ lấy lại và đi tới một chu kỳ kinh tế mới.

- Ông đánh giá thế nào về giải pháp rót 30.000 tỷ đồng qua ngân hàng thương mại để tháo gỡ khó khăn cho địa ốc, trong đó tập trung cho phân khúc nhà thu nhập thấp và nhà thương mại giá rẻ?

- Theo tôi giải pháp này không khả thi. Hiện nợ xấu ngân hàng chồng chất rồi, giờ phải cho vay thêm thì sẽ rất "ngượng ngùng". Chính phủ rót 30.000 tỷ đồng chỉ cứu được một vài đối tượng. Thị trường bất động sản Việt Nam chỉ cầm máu một chút và vết thương sẽ không khỏi. Phương thức can thiệp này không hữu hiệu mà chỉ lợi cho một nhóm người. Ngoài ra, khi bơm tiền ra sẽ có ít nhất 50% lượng tiền biến mất vì sự không minh bạch, thiếu kiểm soát nghiêm túc. Phải nhớ rằng, ở đâu cũng thế, tiền của người khác thì ta luôn có sự cẩu thả trong tiêu xài. Không có sự kiểm soát chặt chẽ thì luôn có những đối tượng lợi dụng, đó là tình trạng chung của mọi xã hội, "thừa nước đục thả câu".

Ở Mỹ, Chính phủ không cứu bất động sản mà để giá địa ốc xuống ồ ạt. Khi ngân hàng lớn lâm nguy, Chính phủ phải rót tiền vào để có thăng bằng nhưng sau đó chính ngân hàng phải tự tìm vốn để bù vào. Sau khi có thêm một nguồn vốn mới, ngân hàng phải trả lại Chính phủ.

Kết quả thăm dò ý kiến độc giả trên VnExpress, tính tới chiều 21/3.

- Ông cho rằng, giải pháp đưa ra khó khả thi, vậy Chính phủ nên làm gì lúc này?

- Chính phủ phải làm sao để giá xuống và thu nhập người dân lên. Tới điểm nào hai bên gặp nhau thì cung cầu mới cân bằng. Những theo tôi, để hai điểm này gặp nhau thì phải mất đến 10 năm.

- Các chuyên gia cho rằng, hiện có sự chờ đợi của doanh nghiệp cũng như người dân vào các biện pháp giải cứu. Theo ông, tâm lý chờ đợi bao trùm này sẽ ảnh hưởng thế nào đối với thị trường bất động sản?

- Nếu bất động sản nằm yên không bán được thì càng đợi, người ta càng tuyệt vọng sẽ có nhiều người bỏ cuộc và giá sẽ xuống. Đó là áp lực chính. Tôi cho rằng, người mua nhà tỏ ra khôn ngoan, họ chờ đợi sự nao núng từ phía người bán. Giá nhà xuống họ mua được và nền kinh tế sẽ tốt hơn. Họ chờ đợi vì không có niềm tin. Thực tình tiền trong dân rất nhiều nhưng họ không muốn kinh doanh gì cả vì lúc này mà đầu tư thì bấp bênh quá. Nhiều người tôi biết có khả năng kinh doanh nhưng họ không muốn động tới tiền của mình, họ muốn đợi. Đôi khi tôi thấy những nhà đầu tư nước ngoài tin nhiều hơn là những người đã ở đây lâu.

- Lời khuyên của ông cho các nhà đầu tư cũng như người dân trong bối cảnh địa ốc như hiện nay là gì?

- Nếu doanh nghiệp trường vốn thì có thể đợi chờ và tìm cách để làm dự án hấp dẫn hơn. Trường hợp kẹt vốn, doanh nghiệp nên "phủi tay" làm lại, chấp nhận bỏ cuộc chơi thay vì tham gia một cách vô vọng. Người dân nếu thấy dự án tốt, sức mua ổn đáp ứng nhu cầu thì nên mua để đầu tư dài hạn.

- Theo ông, mất bao lâu để thị trường địa ốc phục hồi?

- Tình hình đang xấu, sẽ mất rất nhiều năm để bất động sản lại thời vàng son 10-15 năm nếu không có gì thay đổi. Không giải cứu, địa ốc sẽ đi lên sau 4-5 năm. Doanh nghiệp mà không còn khả năng hoạt động thì nên để phá sản. Giống như một hình ảnh vui là có 1 con cóc mà mình phải nuốt thì nuốt ngay để đi làm việc khác thay vì ngồi nhìn nó hoài mà đến cuối ngày nó vẫn xấu chứ không đẹp hơn.

- Có nhiều kinh nghiệm đầu tư quốc tế, ông đánh giá thế nào về sức hút của thị trường bất động sản trong nước đối với các nhà đầu tư ngoại?

- Thị trường bất động sản Việt Nam chứa nhiều nghịch lý và nhạy cảm nên thật tình mà nói chưa hút nhiều nhà đầu tư ngoại. Thủ tục pháp lý và quan niệm toàn dân sở hữu đất đai vẫn chưa quen lắm với người nước ngoài. Thị trường hiện không sáng sủa nên việc kiếm tiền trong 3-5 năm rất khó, bởi vậy cơ hội ngắn hạn không dễ dàng. Còn cơ hội dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Việt Nam đang yếu thế trong việc thu hút dòng tiền bên ngoài vào so với Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines. Kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng chưa bền vững.

Các trường hợp mua lại dự án phải có một mức giá hợp lý, chủ đầu tư chịu lỗ còn đơn vị mua lại thấy có cơ hội rút lui trong chiến thắng 3-4 năm thì họ vẫn làm. M&A chủ yếu là dự án đang xây dở dang, chỉ cần nhà đầu tư ngoại rót thêm một khoản tiền nữa để hoàn thiện nên họ sẵn sàng mua lại. Còn bảo họ đầu tư dài hạn, mua đất giải phóng mặt bằng sau đó triển khai dự án thì câu trả lời là không.

Alan Phan là doanh nhân với 43 năm kinh nghiệm tại thị trường Mỹ và Trung Quốc. Ông là Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên niêm yết sàn chứng khoán Mỹ (1987) - Công ty Hartcourt đạt thị giá 670 triệu đôla vào năm 1999.

Ông cũng là doanh nhân đầu tiên đưa giao dịch chứng khoán và giáo dục từ xa qua mạng Internet tại Trung Quốc (1997). Ông từng là Chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa Fund tại HongKong và Thượng Hải.

Nguồn: VnExpress

20 tháng 3, 2013

, , ,

Mô hình PPP là giải pháp tối ưu cho đô thị Việt Nam

Trong hoàn cảnh nhu cầu cơ sở hạ tầng tại Việt Nam ngày càng tăng nhanh mà ngân sách của Chính phủ và các nhà tài trợ có giới hạn, hợp tác công tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và chuyên môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện chất lượng và mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ cơ sở hạ tầng tại Việt Nam hiện nay.

Mô hình PPP là gì?

Trong chi tiêu công cộng, PPP (Public - Private Partner) là hợp tác công - tư mà theo đó nhà nước cho phép tư nhân cùng tham gia đầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng của nhà nước. Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính và quản lý từ tư nhân, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho người dân.

Các hình thức PPP

Có năm hình thức phổ biến trên thế giới hiện nay.

• Thứ nhất, nhượng quyền khai thác (Franchise) là hình thức mà theo đó cơ sở hạ tầng được nhà nước xây dựng và sở hữu nhưng giao (thường là thông qua đấu giá) cho tư nhân vận hành và khai thác.

• Thứ hai, mô hình thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành DBFO (Design- Build - Finance - Operate), khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng nó vẫn thuộc sở hữu nhà nước.

• Thứ ba, xây dựng - vận hành - chuyển giao BOT(Build - Operate - Transfer) là mô hình mà ở đó công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bộ cho nhà nước. Mô hình này khá phổ biến ở Việt Nam.

• Thứ tư, khác biệt một chút với mô hình BOT, trong mô hình BTO(xây dựng - chuyển giao - vận hành), quyền sở hữu cơ sở hạ tầng được chuyển giao ngay cho nhà nước sau khi xây dựng xong, nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình.

• Thứ năm, là phương thức xây dựng - sở hữu - vận hành BOO (Build - Own - Operate). Ở mô hình này, công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vận hành nó. Mô hình BOO rất phổ biến đối với các nhà máy điện cả ở Việt Nam và trên thế giới.

Mô hình PPP trên thế giới :

Các nước phát triển:

Không một chính phủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng, nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro. Theo Giáo sư Fukunari Kimura của trường Đại học Tổng hợp Keio (Nhật Bản) nói đấy là lý do khiến cho mô hình PPP ra đời, trong bối cảnh châu Á phát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ công cộng cũng như cơ sở hạ tầng rất lớn. Nhật Bản là một trong những quốc gia đã phát triển mạnh nhất mô hình này ở châu Á. Theo kinh nghiệm của nước này, có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án mà nhà nước không thể tham gia trực tiếp. Cụ thể như các dự án về sản xuất và phân phối điện, đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng. Hiệu quả mà mô hình này đem lại là giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo ra được một môi trường cạnh tranh cao. Mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây dựng các kênh đào ở Pháp vào thế kỷ 18, các cây cầu ở London vào thế kỷ 19 hay cây cầu Brooklyn nổi tiếng ở New York cũng vào thế kỷ 19. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thực sự bắt đầu phổ biến trên thế giới từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai trò nhất định trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước phát triển.

Cầu Brooklyn nổi tiếng ở New York được xây dựng theo mô hình PPP
Anh là nước đi tiên phong trong mô hình này với các chương trình tư nhân hóa nổi tiếng của bà Thủ tướng Margaret Thatcher. Tuy nhiên, theo thống kê của Yescombe, trong gần 20 năm (1987-2005), chỉ có 725 dự án đầu tư mới với mức đầu tư trên 100 triệu bảng được thực hiện theo mô hình PPP. Tổng giá trị của các dự án này chỉ là 47,5 tỉ bảng Anh (khoảng 70 tỉ đô la). Đây là một mức hết sức khiêm tốn của một quốc gia có GDP lên đến hàng ngàn tỉ đô la. Ở các nước khác như Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Hàn Quốc... mô hình PPP cũng được sử dụng trong nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công cộng. Tuy nhiên, không ở nước nào mô hình này có vai trò nổi bật so với các hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng khác. Trong giai đoạn ba năm từ 2003-2005, tổng giá trị các dự án đầu tư theo phương thức PPP của các nước G7 chưa đến 100 tỉ đô la.

Các nước đang phát triển :

Ở các nước đang phát triển, mô hình PPP bắt đầu phổ biến từ đầu thập niên 1990, nhất là ở khu vực Mỹ Latinh. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong 20 năm (1990-2009), đã có 4.569 dự án được thực hiện theo phương thức PPP ở các nước đang phát triển với tổng vốn cam kết đầu tư 1.515 tỉ đô la Mỹ. Con số này bao gồm cả việc tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Tổng mức đầu tư nêu trên chỉ tương đương với 1% GDP của các nước đang phát triển trong hai thập kỷ qua. Với mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng vào khoảng 5-6% GDP thì đầu tư theo phương thức PPP chỉ chiếm khoảng 20%. Đây là một con số khá khiêm tốn.

Xét về vùng lãnh thổ, mô hình PPP phổ biến nhất ở các nước Mỹ Latinh trong 20 năm qua. Ở thời kỳ đỉnh điểm, khu vực này chiếm đến 80% lượng vốn cam kết. Hiện nay, các nước này vẫn đang dẫn đầu thế giới. Đối với khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, mô hình này không có nhiều tiến triển.

Xét về cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực, năng lượng và viễn thông là hai ngành có tỷ trọng cao nhất. Tỷ phần của ngành giao thông vận tải có xu hướng tăng trong thời gian gần đây, nhưng vẫn thấp hơn khá nhiều so với hai ngành trên. Loại trừ phần tư nhân hóa, các dự án đầu tư theo phương thức xây dựng sở hữu vận hành (BOO) chiếm hơn một nửa, phần còn lại là các dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) .Ở các nước đang phát triển, mô hình nhượng quyền hay thuê vận hành chưa phổ biến, chủ yếu do hạn chế của các cơ sở pháp lý và khẳ năng chế tài của các cơ quan nhà nước.

Mô hình PPP tại Việt Nam

Ở Việt Nam, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có 32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ đô la. Cũng giống như các nước khác, mô hình BOT và BOO chiếm tỷ phần chủ yếu. Hai lĩnh vực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn thông. Ngoài ra, có thể kể đến nhiều dự án hợp tác công - tư khác đã và đang được triển khai từ thập niên 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO.Về mô hình BOT, tổng cộng có 26 dự án với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng.

Riêng năm 2010, theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài, tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới. Nhưng số lượng dự án cấp mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT,BTO,BT là 11 dự án, chiếm % cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư, so với năm 2009 không có dự án mới nào đầu tư theo hình thức BOT,BT,BTO đó là một sự khởi sắc tốt.

Về hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 8% trên tổng số dự án, số dự án cấp mới chỉ có 799 dự án trong khi tổng số dự án đăng ký là 9.599 ( tính hết ngày 21/12/2010), còn về hình thức liên doanh chỉ chiếm 7% trên tổng số dự án cấp mới đăng ký, hình thức cổ phần và hợp đồng hợp tác vốn đầu tư chiếm lần lượt là 4% và 1% trên tổng số dự án cấp mới. Ta thấy rằng hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO đang phát triển theo chiều hướng tích cực. Vậy dưới sự giám sát và hỗ trợ của nhà nước, hình thức đầu tư theo mô hình PPP đã bắt đầu có sự tiến triển so với các hình thức đầu tư khác.

Đặc biệt là sau khi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế Thí điểm đầu tư theo hình thức PPP được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày15/1/2011. Điều này đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong và ngoài nước đang dồn vào mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân (PPP).

THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI NĂM 2010 THEO HÌNH THỨC

(Tính từ 01/01/2010 đến 21/12/2010)


Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO HÌNH THỨC

Lũy kế dự án còn hiệu lực đến ngày 21/12/2010


Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

Chính phủ đã giao cho Bộ Giao thông Vận tải thực hiện thí điểm mô hình PPP ở dự án đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết và hiện nay Bộ Giao thông Vận tải đã thành lập tổ công tác liên ngành với sự tham gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước để triển khai dưới sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (WB).

Tuy mô hình này đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu nhưng hành lang pháp lý của chúng ta chưa hoàn thiện, còn thiếu đồng bộ. Ông Ben Darche - Tư vấn quốc tế về PPP - cho biết: Kinh nghiệm thực hiện PPP của nhiều nước trên thế giới cho thấy, việc các luật thiếu thống nhất, thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện thỏa đáng là những yếu tố góp phần làm các dự án PPP thất bại. Phải đặc biệt quan tâm đến các quy định về trách nhiệm tài chính đối với hỗ trợ tài chính của Chính phủ, cơ chế lãi suất, cũng như quy định rõ cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện các dự án PPP. Ngoài ra, vấn đề tiên quyết đối với việc huy động các nhà đầu tư thực hiện mô hình PPP chính là cơ hội tìm kiếm lợi nhuận từ các dự án. nhưng một số doanh nghiệp còn băn khoăn về ràng buộc bảo lãnh vốn vay của Chính phủ và tỷ lệ góp vốn 30-70 trong một dự án PPP.

Mới đây nhất chính là Văn bản số 1482/TTg-KTN, ngày 9.9.2008 của Thủ tướng Chính phủ đã giao Tập đoàn Bitexco lập dự án đầu tư dự án đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết - với tổng mức kinh phí lên tới 14.355 tỉ đồng, thời gian thi công 36 tháng theo mô hình PPP. Đây là cũng là dự án trọng điểm nằm trong hệ thống đường cao tốc Bắc - Nam, có tổng chiều dài 100km. Thiết kế đường cao tốc này thuộc loại A, vận tốc thiết kế 120km/h, mặt cắt ngang đường 33 mét gồm 6 làn xe, phân kỳ đầu tư giai đoạn 1 là 4 làn xe.

Dự án cao tốc Dầu Dây-Phan Thiết
Tóm lại, theo thống kê cho thấy mô hình PPP tuy đã phổ biến ở Việt Nam theo hình thức chủ yếu là BOO và BOT nhưng còn quá khiêm tốn và khi triển khai cũng cần những điều kiện nhất định khác. Đặc biệt là vấn đề pháp lý của nhà nước ta có thu hút hấp dẫn được các nhà đầu tư trong và ngoài nước không? Vì thế chúng ta cần đưa ra biện pháp cải thiện để có thể tận dụng tốt nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài cũng như trong nước một cách hiệu quả và có lợi cho hai bên tham gia nhất.

Sau đây là một số thuận lợi và thách thức khi áp dụng mô hình PPP tại Việt Nam theo kinh nghiệm của nhà đầu tư nước ngoài HIFU đã đầu tư tại TP Hồ Chí Minh qua nhiều năm trên các lĩnh vực như dự án cơ sở hạ tầng giao thông, dự án khu công nghiệp Tân Phú Trung, dự án xây dựng nhà máy nước Thủ Đức, cụm công nghiệp ô tô Hòa Phú, cầu Phú Mỹ, xư lý kênh Đông.

Những thuận lợi và hạn chế khi thực hiện dự án PPP .

Thuận lợi:

Sử dụng được những kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu vực tư nhân. Buộc khu vực công cộng ngay từ đầu phải chú trọng đầu ra và lợi ích ( thay vì các yếu tố đầu vào). Đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh nặng về tài chính cho dự án. Rủi ro được chia sẻ giữa những đối tác khác nhau. Chắc chắn về ngân sách. Những nhà cung cấp tư nhân có trách nhiệm hơn trong việc cung cấp dịch vụ trong môi trường khuyến khích thích hợp. Trong mô hình sáng kiến tài chính tư nhân ( PFI), khu vực công cộng chỉ thanh toán khi dịch vụ đã được cung cấp.

Hạn chế:

PPP ngụ ý việc khu vực công cộng mất quyền kiểm soát quản lý và vì vậy khó có thể chấp nhận trên góc độ chính trị. Liệu khu vực công có đủ năng lực và kỹ năng để áp dụng phương pháp PPP và thiết lập môi trường pháp lý để khuyến khích thích đáng không? Liệu khu vực tư nhân có đủ năng lực chuyên môn để đảm bảo thực hiện PPP không? Không thể chuyển giao rủi ro tuyệt đối. Việc mua sắm có thể tốn nhiều thời gian và chi phí. Các cấu trúc dài hạn tương đối không linh hoạt.

KẾT LUẬN:

Mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc đầu tư nâng cao chất lượng các dịch vụ công được coi là hướng đi đúng đắn của Việt Nam trong giai đoạn này. Tuy nhiên, không nên được nhìn nhận như một “hạt đậu thần” và để mô hình này có thể thực sự hoàn thiện và đem lại lợi ích như mong muốn rất cần có những phương pháp tiếp cận PPP phù hợp nhằm đạt được những kết quả về cơ sở hạ tầng tôt hơn và có được giá trị đông tiền cao hơn so với hình thức mua bán truyền thống của khu vực công cộng. Chúng tôi cho rằng cần có một số biện pháp đồng bộ khi áp dụng hình thức PPP vào Việt Nam để có hiệu quả:

Thứ nhất : Tạo lập khuôn khổ pháp lý và chính sách thực thi hợp đồng và giải quyết tranh chấp, luật BOT/PPP, khung quy định về các khu vực rõ ràng. Để đảm bảo sự thành công cho mô hình PPP nói chung và mô hình PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng nói riêng cần hội đủ hai yếu tố cơ bản sau: "hợp đồng hiệu quả" để tăng giá trị vốn đầu tư và "môi trường thuận lợi" để quản lý PPP, trong đó một trong những nội dung cơ bản nhất của nhân tố môi trường chính là khung thể chế, pháp lý đầy đủ và ổn định. Điều này sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch cho các mô hình PPP và khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia tích cực hơn.

Thứ hai : Trong hoàn cảnh Việt Nam đang thiếu hụt nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như hiện nay, nhà đầu tư tư nhân nên tập trung hơn vào mô hình hợp tác công tư trong đó nhà đầu tư tư nhân có tham gia tài trợ dự án như BOT, BOO hơn các mô hình chỉ đóng góp kinh nghiệm, khả năng điều hành quản lý như thiết kế-xây dựng hay vận hành-bảo dưỡng.

Thứ ba : Các nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực mạnh về nguồn vốn có thể làm một mình hay kết hợp hai, ba nhà đầu tư tư nhân tham gia hợp tác công tư. Riêng đối với nhà đầu tư tư nhân trong nước nên kết hợp nhiều công ty theo hình thức cổ phần nhằm khắc phục các hạn chế về quy mô, năng lực tài chính và giảm thiểu rủi ro đầu tư.

Thứ tư : Do các dự án hạ tầng chịu nhiều tác động của chính sách cũng như hoàn cảnh xã hội nên các điều khoản trong hợp đồng cần linh hoạt, có biên độ điều chỉnh để tránh thiệt hại cho nhà đầu tư cũng như chính quyền.

Thứ năm : Có sự hỗ trợ chính trị từ tầm cao và quản trị tốt, đảm bảo rằng chính phủ sẽ thực hiện các cam kết của mình dưới hình thức PPP. Hợp đồng ký kết giữa chính quyền và nhà đầu tư cần rõ ràng, minh bạch là điều kiện tiên quyết để chính quyền đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và là cơ sở cho chính quyền tận dụng hiệu quả nhất tính năng động và cạnh tranh của khu vực tư nhân, góp phần tiết kiệm các chi phí về cơ sở hạ tầng của toàn xã hội.