Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

24 tháng 3, 2013

, ,

Lincoln và bên thắng cuộc

Tết rồi, một người bạn Nhật Bản không về nước nên mời tôi xông đất theo tục lệ Việt; rồi ăn tối. Sau đó, cả 2 gia đình mở lên cuốn phim mới “Lincoln” để cùng ngồi coi. Cuốn phim bắt nguồn từ một cuốn sách khảo sát và tổng hợp các sự kiện lịch sử trong 4 tháng sau cùng của cuộc đời Tổng Thống Mỹ Lincoln (Tác giả: Doris Kearns Goodwin‘s ; tên sách, Team of Rivals: The Political Genius of Abraham Lincoln). Thời điểm là tháng giêng năm 1865, vào những ngày cuối của cuộc Nội Chiến Bắc Nam (Civil War); đã kéo dài 4 năm và đã tổn phí 600,000 sinh mạng của lính 2 bên.

Lãnh tụ của bên thắng cuộc

Lúc này, phần thắng coi như đã trong tầm tay của miền Bắc (đội Union). Miền Nam (đội Confederate) đang xin thương thuyết một cuộc đầu hàng với vài lá bài còn lại. Cho những ai chưa quen thuộc với cuộc Nội Chiến, nguyên nhân bắt đầu là sự xóa bỏ chế độ nô lệ trong xã hội Mỹ. Kinh tế miền Nam, chủ yếu là đồn điền nông trại, rất cần các nô lệ từ Phi Châu để điều hành. Sự giải phóng nô lệ (một loại tài sản) sẽ tạo mất mát và khủng hoảng kinh tế sâu rộng; trong khi miền Bắc không chịu ảnh hưởng kinh tế này nên chỉ muốn tiến tới một xã hội công bằng và nhân quyền của mọi người được tôn trọng hơn.

Lincoln vừa thắng cử nhiệm kỳ hai và được cử tri bình dân yêu chuộng nhờ tài hùng biện trên các diễn đàn và lối sống giản dị; trong khi các tầng lớp thượng lưu của giới chánh trị và tư bản không mặn mà với những tư duy tiến bộ mà họ cho là quá mạo hiểm cho quốc gia.

Câu chuyện quay quanh cố gắng của Lincoln lấy cho được sự chấp thuận của Hạ Viện (cần 2/3 số phiếu) để thông qua Tu Chính số 13 của Hiến Pháp Mỹ đặt “hệ thống sở hữu và điều hành nô lệ ngoài vòng pháp luật” trên mọi tiểu bang. Lý do là dù thắng trận, nếu nô lệ vẫn còn là “tài sản hợp pháp” của người dân và tùy thuộc vào luật lệ của tiểu bang, ý nghĩa sự thắng trận của phe miền Bắc coi như công cốc. Trong khi đó, vì chiến thắng đã cận kề và mọi người đã mỏi mệt qua 4 năm mất mát, nên dù đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ,  không ai muốn đụng chạm đến chuyện “nô lệ” này nữa.

Cuối cùng, Lincoln và những người nô lệ hân hoan mừng thắng cuộc, trên chiến trường và nghị trường, đem vấn đề nô lệ ra khỏi lịch sử Mỹ từ đó. Hai tháng sau, Lincoln bị ám sát chết và 143 năm sau, Obama trở thành Tổng Thống da mầu đầu tiên của Mỹ.

Cuốn phim dàn dựng rất công phu và chi tiết theo đúng lối hấp dẫn khán giả của đạo diễn Spielberg; nhưng ngoài việc đang được đề cử cho giải Oscar của phim hay nhất trong năm, phim còn là một bom tấn trên thị trường. Điều này hơi lạ vì không ai nghĩ là người dân Mỹ quan tâm đến một đề tài khô khan của lịch sử, nhất là những tranh luận và thủ thuật chánh trị trong quá khứ xa vời. Với tôi, ấn tượng nhất là cuốn sách và phim “Lincoln” đã giúp cho tôi 4 góc nhìn mới về các sự kiện 150 năm về trước trong bối cảnh của thực tại hiện nay.

1. Đây mới gọi là nghiên cứu và khảo sát lịch sử

Rất nhiều tư tưởng hiện tại về quốc gia, về các nhân vật lịch sử và về hệ quả của các hành xử chính trị hay quân sự thường dựa trên những định kiến và những tài liệu xa xưa chứa nhiều huyền thoại và sai lầm. Ngay cả trong 100 năm trở lại đây, khi tiến bộ về khoa học và nhân văn đã phổ thông toàn cầu, phần lớn những trích dẫn về dữ kiện lịch sử của Việt Nam lại đến từ ghi chép của các sử gia nước ngoài. Các tài liệu tôi đã đọc về sử Việt cho thấy những bài viết rất hời hợt, chủ quan và mang tính cách tuyên truyền cho một trường phái nào đó trên quan điểm chánh trị hay xã hội (đây là kết luận có thể sai lầm của tôi vì chưa đọc nhiều và đủ từ các sử gia Việt?).

Ngay cả khi một giả thuyết nghi ngờ về thân thế của một nhân vật lịch sử quan trọng xuất hiện trên mạng, đề tài này được bàn tán sôi nổi vì bí mật bao quanh sự kiện. Một cuộc khảo sát DNA mất 5 phút có thể cho ta lời giải đáp chính xác. Nhưng không một sử gia nào được phép liên quan. Khi khoa học và minh bạch đi vắng, thì góc nhìn của mọi người nhất định phải bị méo mó và thui chột.

Cuốn sách của Goodwin chỉ phủ trùm 4 tháng của cuộc đời Lincoln và chì đặt trọng tâm vào sự kiện Tu Chính 13 của Hiến Pháp Mỹ. Nhưng những chi tiết trích dẫn cho thấy một công trình khoa học, khách quan và có thể dậy cho chúng ta phân biệt thế nào là “lịch sử” và thế nào là “tiểu thuyết”. Những cái hay, cái đẹp, cái thiện được phơi bày rõ ràng cùng với những cái dở, cái xấu, cái ác…của các nhân vật và môi trường sinh hoạt 148 năm trước. Ngay cả những rắc rối khó khăn trong gia đình Lincoln, nhất là vấn đề của vợ con, cũng được phơi bày tường tận.

Santayana nói là những ai quên quá khứ sẽ phải trả giá cho sự tái diễn. Liệu sự ngu dốt của chúng ta về “sự thật” không nhuốm mầu chánh trị trong các sự kiện lịch sử chỉ mới xẩy ra chưa đến 100 năm có thể là một gánh nặng văn hóa và tư duy cho nhiều thế hệ sau này của Việt Nam?

2. Chính trị gia thời nào nơi nào cũng thế

Trong cuộc tranh giành từng lá phiếu để thông qua Tu Chính 13, Lincoln và phe nhóm ông ta đã phải dùng đến rất nhiều thủ thuật để có đủ 2/3 số phiếu. Họ đã phải hối lộ (không bằng phong bì mà bằng những ban phát phát chức vụ trong chánh quyền mới), phải thỏa hiệp với những tay thao túng lợi ích (power brokers), phải chia để trị, phải đe dọa, phải dỗ dành….Tóm lại, tất cả những sắp xếp sau hậu trường (horse-trading) không khác gì những gian dối mua bán quyền lực và lợi ích ngày nay trên các sân khấu chánh trị từ Âu Mỹ đến Phi Á.

Quyền lợi cá nhân của đa số chính tra gia luôn đặt trên các lợi ích quốc gia hay lý tưởng cộng đồng. Do đó, nếu không có một thể chế phân quyền và minh bạch, sự lạm dụng quyền lực sẽ luôn luôn đi quá đà và tạo nên những thao túng pháp luật vô cùng trắng trợn và táo bạo.

Sự khôn ngoan của các bậc trí thức khi tạo dựng hiến pháp Mỹ và các tuyên ngôn dân quyền đã đem sự ổn định chánh trị và xã hội của Mỹ trong suốt 250 năm qua.

3. Tinh thần thượng tôn pháp luật

Lý do chính khiến Lincoln phải vội vã đưa ra biều quyết cho Tu Chính 13 khi chiến thắng của miền Bắc đã gần kề là sự giải thích pháp luật theo cái nhìn của một luật gia với mọi văn kiện pháp lý. Theo Lincoln, nếu hiến pháp không đặt chuyện “nô lệ” ra ngoài vòng pháp luật, thì luật vẫn cho nô lệ là một tài sản và thuộc quyền xử lý của tiểu bang. Tóm lại, dù thắng trận, chánh phủ liên bang cũng không có quyền đụng đến “tài sản của dân” và không thể áp buộc các chủ nô lệ phải “giải phóng” hay “ chịu sự tước đoạt” của bất cứ thẩm quyền nào.

Ở xứ Trung Quốc, khi quan điểm của ông Chủ Tịch Mao là “ người cầm súng đặt ra luật lệ” thì không ai thắc mắc về những văn kiện hay điều lệ tiềm ẩn có thể gây tranh cãi tại các tòa án. Chính vì vậy, Lincoln đã tốn bao nhiêu vốn chính trị, đêm không ngủ, thực thi kế sách…để Tu Chính 13 được Hạ Viện thông qua. Tinh thần thượng tôn pháp luật của 1 vị Tổng Thống quyền lực và vừa thắng trận 148 năm trước không biết có làm các lãnh tụ bé hon ngày nay phải xấu hổ vì sự ngạo mạn chà đạp lên mọi luật lệ và công lý của xã hội?

4. Không trả thù bại quân và dân và không cướp giật tài sản

Tuy nhiên, điều ấn tượng nhất trong cuốn sách là hai tuần trước khi miền Nam chính thức đầu hàng, Lincoln đã gặp tướng U. S. Grant, thống soái đạo quân miền Bắc cùng các tướng lãnh chỉ huy khác, và dặn dò đi lại nhiều lần là,” khi chiến tranh chấm dứt, hãy trả tự do mọi tù nhân chiến tranh (bại quân và bại dân) và giúp họ quay về nhà sớm để mưu sinh lo cho gia đình. Tuyệt đối không được đụng đến tài sản của dân (dù thua cuộc, tất cả bây giờ đều là công dân), không được trả thù và phải nghiêm trị mọi vi phạm pháp luật, nhất là của các quan cán chức hay binh sĩ của phe thắng trận”.

Ngoài ra, trong những đề nghị ngân sách các năm sau đó, các lãnh tụ kế tiếp của miền Bắc đã luôn dành ưu tiên cho việc tái thiết miền Nam để hàn gắn những đổ vỡ về vật chất cũng như tinh thần.

Tinh thần nhân hậu và cách đối xử văn minh của phe lãnh đạo miền Bắc đã tạo nên một tiền lệ lịch sử cho tinh thần xứ Mỹ: luôn luôn chăm lo cho phe thua cuộc hơn là băm xẻ những miếng mồi ngon bở cho phe nhóm mình. Sau trận thắng huy hoàng ở Thế Chiến 2, Mỹ đã bơm nhiều tỷ đô la thời đó vào chương trình Marshall để tái thiết Âu Châu và MacArthur đã giúp Nhật rất nhiều để xây một nền tảng pháp lý mới cho một nền kinh tế mới.

Nhân và quả của một chánh sách

Bản chất nhân hậu, lương thiện, tôn trọng luật pháp và đặt lợi ích quốc gia trên quyền lợi cá nhân đã biến Lincoln thành một vị Tổng Thống vĩ đại của nước Mỹ. Cùng với các thận cần như Tướng Grant, các Bộ Trưởng Seward, Stanton…họ đã thay đổi định mệnh của xứ Mỹ. Chỉ 25 năm sau, mọi thành kiến, thù hận về cuộc nội chiến đã được xóa bỏ trong lòng người dân Mỹ. Giữa hai bên, phe thắng cuộc và thua cuộc, những rào cản pháp lý hay xã hội không cón hiện diện. Atlanta vươn lên từ đống tro tàn và trở thành một trong những thành phố đáng yêu nhất của miền Nam.

40 năm sau đó, xứ Mỹ qua mặt đế chế Anh về kinh tế và trở thành một đế chế siêu cường chỉ 60 năm sau nội chiến tương tàn để thay thế cho đế chế Anh vừa tàn lụi.

Tôi nói với người bạn Nhật,” nếu chúng tôi có một lãnh tụ như Lincoln 150 năm trước, lịch sử Việt Nam sẽ thay đổi nhiều.” Anh bạn cười, “Lúc đó, chúng tôi phải xếp hàng chờ qua Việt Nam để học hỏi các anh.”
Sao dân tộc Mỹ may mắn đến thế?

Alan Phan

T/S Alan Phan là tác giả của 9 cuốn sách về thị trường mới nổi, giảng viên thỉnh giảng tại các đại học Mỹ và Trung Quốc, và doanh nhân có 44 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc. Web site cá nhân của ông là www.gocnhinalan.com. Facebook: http://www.facebook.com/gocnhinalan?fref=ts

 Nguồn: gocnhinalan.com

21 tháng 3, 2013

, ,

Một lần tới Silicon Valley


Silicon Valley hay tên được Việt hóa Thung lũng Hoa vàng là nơi tôi muốn tới từ lâu.

Những câu chuyện về một vùng đất với văn hóa kinh doanh đặc biệt ở bắc California này luôn có sức lôi cuốn đặc biệt.

Nhưng mãi tới mùa hè năm nay tôi mới có dịp tới thăm quê hương của một loạt các tên tuổi lớn như Google, Yahoo, eBay, Intel và rất nhiều công ty khác.

Trước khi tới đây, tôi cũng đã biết là mình sẽ thấy rất nhiều công ty công nghệ cao tại Silicon Valley.

Nhưng tới khi ra ngõ gặp các công ty Công Nghệ Thông Tin ( Information Technology : IT ) vẫn thấy ngạc nhiên. Mật độ các công ty ở nhiều chỗ khá dày đặc. Những công ty lớn như Google hay Intel chiếm luôn cả một khu như một phường ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh (người Việt ở Cali gọi là Sài Gòn). 

Nhiều doanh gia người Việt có cơ sở khá khang trang tại Thung lũng Hoa vàng.

Trong những ngày này tại đây cũng đang diễn ra hội nghị về làm ăn trong ngành công nghệ cao ở Hoa Kỳ và Việt Nam với sự tham gia của hàng trăm doanh nhân Việt.

Biến đổi thần kỳ


Tôi được cho biết tên Thung lũng Hoa vàng được đặt cho Silicon Valley khi người Việt tới đây hồi những năm 70 khi vùng đất này còn nhiều trang trại và hoa cúc dại màu vàng ngập tràn thung lũng.

Tới nay, nhà xưởng và trụ sở của các công ty lớn nhỏ trong ngành công nghệ thông tin, các công trình cơ sở hạ tầng và đường xá khiến màu vàng truyền thống không còn nữa.

Sau gần 30 năm phát triển, Silicon Valley trở thành trung tâm hàng đầu thế giới về công nghệ cao. Sự thành công của Silicon Valley đã khiến nhiều nước muốn phát triển các khu theo mô hình này. Nhưng các chuyên gia tại Thung lũng Hoa vàng nói với tôi rằng điều đó không dễ.

Silicon Valley có đại học Stanford nổi tiếng thế giới bên cạnh một loạt các trường khác như Berkeley, hay Đại học bang San Jose.

Tại đây cũng có văn hóa nhìn thất bại như một bước đệm tới thành công. Người ta nhìn con người với tiềm năng trong tương lai chứ không phải với gánh nặng của quá khứ.

Một số doanh gia người Việt nói với tôi, Silicon Valley cũng là mảnh đất của ý tưởng. Vô vàn ý tưởng kinh doanh mới xuất hiện tại đây và những Google và eBay cũng bắt đầu từ những ý tưởng kinh doanh như vậy.

Trong những ngày ở Silicon Valley tôi được một người bạn đưa tới một con đường đặc biệt. Sand Hill là nơi tập trung các ngân hàng và công ty chuyên tài trợ cho các dự án mạo hiểm. Những nhà tài phiệt tại đây sẵn sàng bỏ tiền ra cho ý tưởng mới mà họ thích và bị thuyết phục. Họ cũng chấp nhận khả năng họ có thể mất toàn bộ khoản đầu tư vào một ý tưởng nếu không may ý tưởng đó không thể cất cánh. Tất cả những yếu tố này tạo ra sự biến đổi thần kỳ cho Silicon Valley.

Công lao người Việt

Người Việt ở Silicon Valley khá đông. Riêng ở thành phố San Jose đã có tới hơn 100.000 người.

Sự đóng góp của Việt kiều vào thành công hôm nay của Thung lũng Hoa vàng được coi là rất đáng kể.

Đa số họ là các kỹ thuật viên tại các công ty lớn nhỏ ở đây. Nhiều người có hãng xưởng riêng. Một số ít thành tỷ phú.

Hiển nhiên cũng có người thua thiệt khi quả bóng dotcom nổ hồi đầu thiên niên kỷ. Nhưng nhìn chung người Việt được coi là sắc dân thành công trong thung lũng điện tử. Tôi được kể hầu hết người Việt Nam đều cố gắng mua nhà cho riêng mình khi tới đây thay vì thói quen thuê nhà như các sắc dân khác. Và như vậy nhiều người giàu lên trông thấy nhờ đất đai tăng giá khi Silicon Valley phát triển.

Tại San Jose người Việt có hai khu thương mại khá lớn. Ngoài ra thành phố cũng đã đồng ý cấp cho cộng đồng Việt Nam một khu đất để hình thành cái mà trong tương lai có thể thành Vietnam Town.

Đượm hương vị Việt

Ngay đêm đầu ở San Jose, tôi đã được mời tới một buổi trình diễn văn nghệ trong đó có ca sỹ Thanh Lan và nhạc sỹ kiêm ca sỹ Huỳnh Anh tham gia. Tối đó tôi có cảm giác như đang ở Việt Nam. Ca nhạc xong mọi người kéo nhau đi ăn cháo đêm tại một quán Việt Nam. Khi ở đó tôi không để ý nhưng trong gần một tuần ở San Jose tôi chỉ ăn ở quán không phải của người Việt Nam có một lần.

Nhiều đài phát thanh và truyền hình tiếng Việt có dịch vụ ở San Jose và tôi nghĩ chỉ dùng tiếng Việt không thôi có lẽ cũng sống khỏe ở vùng này.

Một trong những điều để lại ấn tượng khó quên trong tôi là sự nhiệt tình giúp đỡ của những người bạn của những người bạn. Tất cả những người tôi gặp ở bắc Cali đều là người 'lạ'. Nhưng tôi được sự giúp đỡ rất nhiệt tình trong công việc. Nhiều trong số những người giúp đỡ tôi cũng đã giúp cho Silicon Valley có thêm tên khác là 'Thung lũng Tình thương'. Một chuyên gia Việt kiều nói với tôi tên này được đặt cho Silicon Valley vì mỗi lần vận động cứu trợ bão lụt cho Việt Nam, đây bao giờ cũng là khu quyên góp được nhiều nhất. Và chuyện về Silicon Valley còn dài nhưng hẹn quý vị trong một chuyên trang đặc biệt trong thời gian tới đây.

Nguyễn Hùng

Lược sử Thung lũng Silicon

Sự hình thành và phát triển của Thung lũng Silicon gắn liền với một trường đại học, một giáo sư điện tử, một công ty "start-up", một nhà vật lý nhận Giải Nobel, nhiều tài năng trẻ, nhiều ý tưởng thông minh, nhiều nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, và cả những cuộc chiến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên thị trường công nghệ cao thế giới.

Những người khai sinh thung lũng

“Thung lũng Silicon” là cái tên mà báo chí đã đặt cho Thung lũng Santa Clara từ những năm 1970. Thực ra, Santa Clara chỉ là một “bán” thung lũng, phía tây được bao bọc bởi rừng và các dãy đồi, còn phía đông là Vịnh San Francisco. Năm mươi năm về trước, đây vốn là một nơi yên tĩnh, vắng vẻ, với nhiều vườn cây ăn quả, chỉ mới có duy nhất một trung tâm lớn là Đại học Stanford.

Công nghệ điện tử sơ khai đã xuất hiện ở Santa Clara từ cuối thế kỷ 19, mặc dù quy mô của nó còn khiêm tốn. Năm 1890, công ty điện báo liên bang đã được thành lập ở Palo Alto, một thành phố nằm ở khu vực Vịnh San Francisco. Cũng vào thời gian đó, tại thành phố San Jose nằm trong thung lũng, người ta đã lần đầu tiên thực hiện được sự truyền sóng radio liên tục. Công nghệ khuếch đại bằng đèn chân không khi đó đã cho phép sự truyền tín hiệu đàm thoại qua khoảng cách từ bờ phía đông sang bờ phía tây của vịnh.

Frederick Terman có thể được coi là cha đẻ của Thung lũng Silicon. Vốn là con trai của một giáo sư ở Stanford, Frederick nhận được học vị phó tiến sỹ kỹ thuật điện ở MIT và cũng trở thành một giáo sư về điện tử ở Đại học Stanford. Cuốn Bài giảng về kỹ thuật vô tuyến của Terman đã cuốn hút được rất nhiều sinh viên tài năng, trong số đó có David Packard và Bill Hewlett. Năm 1938, với sự khuyến khích của Terman, Packard và Hewlett đã phát triển thành công một loại mạch dao động mới. Một năm sau đó, với số vốn ban đầu 538 USD, hai người này đã thành lập nên công ty “start-up” công nghệ cao đầu tiên. Hiện nay, HP (Hewlett-Packard) được biết đến như một công ty lừng danh thế giới.

Vào thập kỷ 1950, Terman đã mang về Santa Clara nhà vật lý William Shockley cùng với công nghệ bán dẫn Silicon. Trước đó, vào năm 1947, tại Bell Lab, Shockley cùng với hai đồng nghiệp là Bardeen và Brittain đã chế tạo thành công chiếc transitor bán dẫn đầu tiên. Ba người được nhận Giải Nobel vào năm 1956. Sự ra đời của transitor đã đánh dấu sự chuyển mình vĩ đại của công nghệ điện tử. Có cùng các chức năng nhưng transitor ưu việt hơn rất nhiều so với đèn chân không, nó nhỏ hơn, ít tỏa nhiệt hơn, ổn định hơn và phản ứng nhanh hơn.

Năm 1956, Shockley thành lập cơ sở riêng của ông ở Palo Alto mang tên “Phòng thí nghiệm Bán dẫn Shockley” để sản xuất transitor và các link kiện bán dẫn khác. Shockley là một nhà khoa học cực kỳ thông minh nhưng lại là một nhà quản lý tồi. Sau một năm điều hành nhà máy, tám nhân viên hàng đầu của Shockley đã dời bỏ ông. Shockley đã tức giận gọi họ là “tám kẻ phản bội.” Tám người đó là Sheldon Roberts, Eugene Kleiner, Jean Hoerni, Gordon Moore, Jay Last, Victor Grenich, Julius Blank, và Robert Noyce. Họ có một ý tưởng về cái gọi là “transitor silicon khuếch tán kép” nhưng Shockley nghĩ là quá viển vông nên đã từ chối không cho họ tiếp tục nghiên cứu về nó. “Tám kẻ phản bội” bỏ đi, tìm đến sự giúp đỡ của một ngân hàng đầu tư ở New York. Người của ngân hàng này đã giới thiệu họ với Sherman Fairchild, chủ một nhà máy thiết bị quân sự ở Long Island. Vốn là một kỹ sư nên Fairchild cũng phần nào hiểu được ý tưởng của nhóm tám người, ông đã giúp cho họ một khoản vay 1,5 triệu USD. Và kết quả là, năm 1957, tại thành phố Mountain View (gần Palo Alto), Tập đoàn Bán dẫn Fairchild được thành lập nhằm khai thác ý tưởng công nghệ của “tám kẻ phản bội.” Khái niệm về “transitor silicon khuếch tán kép” đã đạt được sự chấp thuận của không lực Hoa Kỳ. Điều đó đã khích lệ nhóm tám người vượt qua được những khó khăn kỹ thuật để chế tạo thành công loại transitor mới. Và chỉ sau một năm rưỡi, loại transitor này đã trở thành một sản phẩm độc quyền của Tập đoàn Fairchild.

Từ IC đến PC

Năm 1958 là năm đánh dấu bước chuyển mình thứ hai của công nghệ điện tử. Chiếc mạch tổ hợp (IC) được phát triển bởi Robert Noyce (một trong “tám kẻ phản bội”) lần đầu tiên được đưa vào sản xuất. Thành công của Noyce đã trở thành yếu tố quyết định cho sự cất cánh của Tập đoàn Bán dẫn Fairchild. Năm 1959, Sherman Fairchild đã quyết định mua lại toàn bộ tập đoàn mang tên ông. Mỗi người trong nhóm tám nhận được 250.000 USD, một khoản tiền đủ làm họ trở nên giàu có vào thời đó. Nhưng một hệ quả không hay cho Fairchild đã xảy ra, “tám kẻ phản bội” dần dần đoạn tuyệt với tập đoàn, hai người ra đi sau cùng là Noyce và Moore, vào năm 1968. Fairchild chấm dứt hoạt động. Bây giờ, thay thế cho đại bản doanh của nó ở Mountain View là toàn văn phòng của hãng Netscape.

Tháng 7 năm 1968, vẫn tại Mountain View, Noyce và Moore thành lập công ty “Integrated Electronics”, gọi tắt là Intel. Họ không đơn giản là chỉ lặp lại những việc đã làm ở Fairchild mà còn vạch ra một hướng chiến lược hoàn toàn mới, đó là chiến lược thu nhỏ các mạch tổ hợp. Năm 1969, chíp nhớ đầu tiên ra đời, mang nhãn hiệu Intel, và đến năm 1971 là sự ra đời của bộ vi xử lý đầu tiên. Thung lũng Santa Clara bắt đầu được gọi bằng cái tên “Thung lũng Silicon” của Mỹ kể từ một bài báo của Dan Hoefler đăng trên tờ Electronic News. Thời kỳ đầu, giống như Fairchild, Intel chủ yếu cung cấp các sản phẩm phục vụ lĩnh vực quân sự. So với đối thủ chính là hãng Texas Instruments, Intel đã thay đổi đến tận gốc rễ phương thức sản xuất, đặt ra những chuẩn mực cao hơn về mức độ tin cậy. Hai năm sau khi bộ vi điều khiển đầu tiên mang tên TMS1600 của Texas Instruments ra đời, Intel đã đuổi kịp Texas với sản phẩm Intel 8748.

Các bộ vi điều khiển đã tạo điều kiện về mặt kỹ thuật cho sự ra đời của các máy tính cá nhân (PC). Năm 1976, hai chàng tài tử trẻ tuổi là Steve Wozniak (26 tuổi) và Steve Jobs (21 tuổi) đã lắp ráp nên chiếc PC đầu tiên, gồm cả một bàn phím và một monitor, nó được gọi là Apple 1. Với sự giúp đỡ về vốn của Arthur Rock, các chàng trai trẻ đã thành lập được hãng Máy tính Apple và nhanh chóng tung ra thị trường sản phẩm PC Apple 2. Đến năm 1978, Apple đã thu được một lợi nhuận hơn 2 triệu USD.

Thời đại "dotcom"

Giai đoạn phát triển tiếp theo của Thung lũng Silicon bắt đầu vào năm 1993 với sự khai thác thương mại đối với Internet và sự ra đời của “world wide web.” Internet bắt đầu được truy cập rộng rãi là nhờ vào chương trình “Mosaic” được phát triển bởi chàng sinh viên 21 tuổi Marc Andreesen ở Đại học Illinois. Nó vốn là một phần mềm miễn phí và đã có số người sử dụng lên đến 1 triệu, tính đến cuối năm 1993. Vì Đại học Illinois không mấy quan tâm đến Mosaic nên sau khi tốt nghiệp, Andreesen quyết định khăn gói đến Thung lũng Silicon tìm vận may. Ở đây anh đã gặp Jim Clark, nhà sáng lập giàu có của hãng Silicon Graphic. Đến tháng 4 năm 1994, họ đã cùng nhau thành lập hãng Mosaic Communications, ít lâu sau được đổi tên thành Netscape. Đến tháng 10 năm đó, Netscape đã tung ra thị trường sản phẩm trình duyệt (browser) đầu tiên của nó mang tên “Navigator,” phần mềm này thậm chí còn thành công hơn cả Mosaic. Ngược lại với các dự định ban đầu của Andreesen, Netscape ngay lập tức đòi những người dùng phải trả tiền cho Navigator. Sự nổi lên của Netscape từ Thung lũng Silicon có vẻ như đã tạo ra một sự khiêu khích đối với Bill Gates ở Micosoft. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Gates tung ra Window 95 có kèm theo trình duyệt “Internet Explorer” miễn phí. Nước cờ của Gates đã tỏ ra rất thành công khi gây ảnh hưởng đến con đường kiếm tiền của Netscape. Đến năm 1998. Netscape không còn lựa chọn nào khác là phải miễn phí hóa trình duyệt của mình. Netscape được tiếp quản bởi American Online (AOL) vào tháng 11 năm 1998. Tuy bị tuột khỏi tay thị trường trình duyệt nhưng nó vẫn là một đối thủ sừng sỏ trên sân chơi công nghệ Internet.

Trong thời gian các cao thủ Microsoft và Netscape đang đánh nhau, hai nghiên cứu sinh Đại học Stanford là Jerry Chih-Yang và David Filo đã thiết lập nên cái gọi là “Jerry’s Fast Track to Mosaic,” sau này đổi tên thành "Yahoo." Đến cuối năm 1994, Yahoo đã có 100.000 người truy cập mỗi ngày. Ban đầu, mục đích tạo ra Yahoo của Chih-Yang và Filo chỉ là để chơi cho vui, nhưng sau đó họ đã biến nó thành công việc làm ăn. Để kiếm tiền, họ đã quyết định vận hành nó theo kiểu một đài phát thanh tư nhân, cung cấp các dịch vụ và cho đăng quảng cáo. Cùng với sự tham gia của Mike Moritz và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm Sequoia, Yahoo đã danh chính ngôn thuận trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn vào năm 1995. Trụ sở của nó cũng "bon chen" được vào khu vực Mountain View. Bí quyết thành công của Yahoo cũng giống như nhiều công ty khác trong Thung lũng Silicon, đó là họ đã có ý tưởng hay, đúng nơi và đúng lúc. Để chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng, Yahoo đã sớm cung cấp cho cư dân mạng những địa chỉ Email miễn phí và thường xuyên duy trì liên kết với các website khác. Tính đến 1999, sau 4 năm thành lập, từ số vốn ban đầu 1 triệu USD, tài sản của Yahoo đã tăng lên đến 8 tỷ USD.

Lược sử Thung lũng Silicon cũng không thể không kể đến các anh tài hàng đầu thế giới về công nghệ phần mềm. Nổi bật lên trong số đó là Oracle, hãng phần mềm lớn thứ hai thế giới sau Microsoft. Xuất phát điểm với 2000 USD vào năm 1977, tính đến 1999, tài sản của hãng này đã lên tới 50 tỷ USD. Cùng với Oracle là nhiều cái tên quen thuộc khác có trụ sở làm việc ở Thung lũng Silicon như: Sun Micro Systems, 3D Graphics, và Silicon Graphics, tất cả đều phát triển xung quanh môi trường Đại học Stanford.

Đại học Stanford - một phần cơ thể của Thung lũng Silicon.

Năm 1953, Frederick Terman đã phát động một chương trình hợp tác để tạo cơ hội cho các kỹ thuật viên làm việc tại các công ty trong thung lũng có thể tham dự các khóa học buổi tối ở Đại học Stanford để nâng cao kiến thức. Chương trình này đã thắt chặt thêm sự gắn bó giữa trường đại học và các công ty trong thung lũng. Nó cho phép các kỹ sư có thể học hỏi và cập nhật kịp thời những kiến thức mới, đồng thời các thành viên trong trường đại học cũng có dịp được tiếp xúc với thực tiễn công nghệ. Đồng thời, Terman cũng đã thành lập nên "công viên công nghiệp" đầu tiên của trường đại học, gọi là Công viên Nghiên cứu Stanford. Tính đến năm 2000, nơi này đã có khoảng 50 công ty với 23.000 nhân viên và 50 trung tâm nghiên cứu. Các viện nghiên cứu đóng vai trò như sợi dây liên kết giữa Đại học Stanford và nền công nghiệp của Thung lũng Silicon. Việc đào tạo nâng cao chuyên môn cho các cán bộ trẻ được vận hành thông qua mạng lưới xã hội được thiết lập giữa các công ty và các giáo sư đại học. Những giám đốc của các trung tâm nghiên cứu luôn là những người vừa có chuyên môn như các giảng viên đại học lại vừa có năng lực và kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh.

Ở Thung lũng Silicon, có vẻ như hãng nào càng ra đời muộn thì lại càng "béo nhanh", thậm chí nhanh với tốc độ chóng mặt. Hewlett-Packard (ra đời năm 1939) phải mất 47 năm để đạt tới tài sản 1 tỷ USD. Trong khi đó, để "béo" được bằng mức ấy, Yahoo (thành lập năm 1995) chỉ mất 2 năm, còn Netzero (sinh năm 1998) chỉ mất 6 tháng! (Nhận xét ở đây đã bỏ qua số vốn ban đầu của các hãng, vì vốn ban đầu dù là vài trăm USD hay vài triệu USD thì vẫn coi là rất nhỏ so với 1 tỷ USD.)
Nguồn: niemtin.free.fr