![]() |
| Đại học Liên hợp Bắc Kinh |
1. Về quá trình xây dựng ĐHĐCQT của TQ
Vấn đề ĐHĐCQT trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của Nhà nước TQ
Không thể phủ nhận quyết tâm hết sức lớn lao của Nhà nước TQ trong việc chủ
trương đưa một số trường đại học TQ vào danh sách các đại học hàng đầu
thế giới. Họ coi đó là một chiến lược phát triển quốc gia, và điều này
thể hiện rõ trước hết trong chính sách của Nhà nước TQ đối với giáo dục
đại học.
Về
mặt chính sách,Nhà nước TQ coi giáo dục đại học là một bộ phận không
thể thiếu trong quá trình hiện đại hóa TQ. Mọi kế hoạch phát triển của
Nhà nước đều nhấn mạnh đến giáo dục ở mọi cấp, từ phổ cập giáo dục tiểu
học toàn quốc đến việc xây dựng ĐHĐCQT
như là đỉnh cao của hệ thống giáo dục. TQ muốn cạnh tranh với toàn thế
giới trong nhiều lãnh vực, và giáo dục đại học là lãnh vực duy nhất mà
tiêu chuẩn quốc tế được chính thức dùng làm thước đo cho những thành
công ở trong nước.
Ngay
từ thập niên 50, TQ đã có chính sách đầu tư đặc biệt cho một số trường
trọng điểm, và từ giữa thập kỷ 90, khi Giang Trạch Dân, sau đó là lãnh
đạo của TQ, chính thức nêu rõ quyết tâm chuyển biến các trường đại học
TQ, ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học đã tăng hơn gấp đôi, lên tới
10,4 tỷ USDtrong năm 2003.Từ những năm 90, TQ bắt đầu triển khai kế
hoạch xây dựng 100 trường đại học chất lượng cao trước khi bước sang thế
kỷ 21, với một kế hoạch được gọi là Dự
án 211. Năm 1998 tại lễ kỷ niệm 100 năm Đại học Bắc Kinh, chủ tịch nước
tuyên bố TQ cần có những trường đẳng cấp quốc tế, ngay sau đó Dự án 985
ra đời nhằm thực hiện chủ trương này. Năm 2005, sau Hội nghị Quốc tế về
ĐHĐCQT do Đại học Giao thông Thượng Hải đăng cai tổ chức, Dự án 111 ra
đời để khắc phục chỗ yếu của các trường đại học tinh hoa ở TQ nhằm nhanh
chóng đạt vị trí “đẳng cấp quốc tế”. Nếu
như 211 và 985 nhằm nâng cao nguồn lực tài chính để trang bị cơ sở vật
chất và trang thiết bị nghiên cứu tối tân cho các trường, thì Dự án 111
chủ yếu để “mua” các tài năng từ nước ngoài đem về các trường đại học TQ
nhằm tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích nghiên cứu. Các
sáng kiến này chủ yếu nhằm vào các trường hàng đầu với mục đích nâng
cao năng lực nghiên cứu để thực hiện tham vọng của TQ trong việc giành
ngôi vị đẳng cấp quốc tế. Nhiều lần các quan chức Chính phủ đã phát biểu
một cách hiển ngôn niềm hy vọng sẽ đưa một loạt các trường đại học TQ
vào hàng ngũ đại học đẳng cấp quốc tế trước năm 2020.
Để thực hiện chính sách ấy, Nhà nước TQ đã chi những khoản tiền khổng lồ cho giáo dục đại học so với tương quan GDP của họ. Từ
những năm 50, đã có những trường được coi là “đại học trọng điểm quốc
gia” (national key universities). Năm 1954 có 6 trường được gọi là đại
học trọng điểm quốc gia, đến năm 1959 thêm 16 trường và 44 trường tính
đến năm 1960, rồi một lần nữa danh sách này được bổ sung thêm 4 trường
trong năm 1963. Sau cuộc Cách mạng Văn hóa, các trường đại học trọng
điểm quốc gia được đặt tên lại, thêm nhiều trường được bổ sung vào danh
sách này, tính đến năm 1981, có tất cả là 96 trường như vậy. Các trường
trọng điểm quốc gia này được ưu tiên hơn những trường khác trong các
chính sách về tài chính.
Chính
sách đầu tư trọng điểm này vẫn tiếp tục và càng lúc càng tăng cường độ.
Từ năm 1984, 10 trường đại học được cung cấp tài chính bổ sung từ Dự án
Trọng điểm Quốc gia là: Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học
Phúc Đán, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Giao thông, Đại học
Bách khoa TQ, Đại học Y khoa Bắc Kinh, Đại học Remin, Đại học Sư phạm
Bắc Kinh, Đại học Nông nghiệp TQ. Trong những năm cuối của thập kỷ 80,
416 chương trình trọng điểm quốc gia ở 107 trường đã được chọn để hỗ trợ
tài chính bổ sung như một phần của Dự án Trọng điểm Quốc gia được gọi
là Dự án 211. Để thực hiện dự án này, trước hết Nhà nước Trung Quốc đầu
tư 400 triệu nhân dân tệ (khoảng 50 triệu USD) cho những trường được
chọn lựa để nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Đồng
thời chính quyền địa phương cũng được yêu cầu cung cấp hỗ trợ tài chính
cho những trường này. Chẳng hạn, chính quyền đặc khu Thượng Hải đã đóng
góp cho Đại học Phúc Đán và Đại học Giao thông Thượng Hải mỗi trường 120
triệu nhân dân tệ (15 triệu USD) năm 1995 để nâng cao chất lượng dạy
học và điều kiện nghiên cứu ở cả hai trường. Điều này chứng tỏ mong muốn
của các chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ các trường đại học
hàng đầu nằm trong khu vực địa phương của mình. Đến năm 1998, khi Dự án
985 ra đời, chỉ 38 trường được hưởng nguồn tài chính từ dự án này. Đại
học Bắc Kinh, Đại học Triết Giang, Đại học Phúc Đán, Đại học Giao thông
Thượng Hải, Đại học Nam Kinh, Đại học Bách khoa TQ, Đại học Giao thông
Xi’an và Viện Kỹ thuật Harbin là 9 trường đứng hàng đầu trong những
trường được sự hỗ trợ mạnh mẽ nhất của Dự án 9851.
Dự án này cung cấp cho Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa, hai
trường trọng điểm hàng đầu của Trung Quốc một ngân sách trọn gói trong
ba năm là 1,8 tỷ nhân dân tệ (234 triệu USD) mỗi trường như một khoản
tài trợ đặc biệt nhằm xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. Chính sách tài
chính này khiến hệ thống giáo dục đại học TQ phân hóa rõ rệt: chỉ vài
mươi trường tinh hoa đang khao khát đạt tới vị trí đẳng cấp quốc tế, và
được Nhà nước đầu tư rất mạnh, trong lúc phần lớn sinh viên phải theo
học ở những trường đại học cấp tỉnh ở địa phương, các cơ sở giáo dục cho
người lớn, đào tạo từ xa qua mạng Internet, và mới đây là các đại học
tư, là những trường bị buộc phải xoay trở để tìm nguồn tài chính mà tồn
tại. Mong muốn của TQ trở thành đủ sức cạnh tranh với cả thế giới trong
nghiên cứu và đào tạo chỉ giới hạn trong một vài trường hàng đầu, kết
quả của chiến lược “nhà nghèo, con đông”: Nhà nước chỉ tập trung cho
những mũi nhọn với hy vọng tạo được sức mạnh đột phá về thành tích.
Tuy
vậy, ngay cả những trường tốt nhất mặc dù đang nhận những khoản tài trợ
đặc biệt từ Dự án 985 về Xây dựng ĐHĐCQT, cũng phải tìm kiếm những
nguồn tài chính phi Chính phủ cho ngân quỹ hoạt động hàng năm của họ.
Những nguồn tài chính hỗ trợ khác gồm có các tài trợ nghiên cứu của Quỹ
Tài trợ Khoa học Quốc gia TQ và Quỹ Tài trợ Khoa học Xã hội, mặc dù mức
tài trợ của những quỹ này thấp hơn nhiều so với những tổ chức Chính phủ ở
Mỹ. Các trường đại học cũng phải tìm kiếm sự hợp tác hỗ trợ của các
doanh nghiệp hoặc tổ chức cộng đồng ở địa phương để thực hiện những
nghiên cứu ứng dụng cũng như những chương trình giáo dục và đào tạo.
Cạnh tranh giữa các trường trong lĩnh vực này khá quyết liệt. Mặc dù
nguồn hỗ trợ tài chính dành cho các trường đại học nghiên cứu hàng đầu
của TQ đã tăng rất đáng kể từ năm 1999, ngân sách hoạt động hằng năm của
họ vẫn nhỏ hơn nhiều so với các trường ĐHĐCQT của phương Tây (ngân sách
của Harvard năm 2008 là 2,996 tỷ USD!2)
Không
chỉ đầu tư mạnh về tài chính, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của các
trường, về mặt tổ chức, Nhà nước TQ đã tiến hành những cải tổ quan
trọng. Trong những năm 50, TQ theo mô hình trường đại học chuyên ngành
của Xô Viết. Vì hầu hết các trường ĐHĐCQT đều là các trường tổng hợp và
bao gồm nhiều chuyên ngành, Chính phủ TQ đã thực hiện tái cấu trúc các
trường đại học và coi đó như một nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả của các
trường và phục vụ cho việc đầu tư trọng điểm để xây dựng những trường
ĐHĐCQT. Từ năm 1992, đã có hơn
200 trường đại học chuyên ngành được sáp nhập lại thành các trường đại
học tổng hợp và đa ngành. Trong quá trình tái cấu trúc, hầu hết các
trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đều giành được một trường
chuyên ngành có chất lượng đỉnh cao như trường y hay một số trường
chuyên ngành hẹp khác. Chẳng hạn, Đại học Y khoa Bắc Kinh đã được sáp
nhập vào Đại học Bắc Kinh, Đại học Mỹ Thuật Quốc gia đã được sáp nhập
vào Đại học Thanh Hoa.
Bên
cạnh việc tái cấu trúc, một nỗ lực đáng chú ý của Nhà nước TQ là việc
tiến hành xếp hạng các trường đại học, bao gồm cả xếp hạng quốc gia và
xếp hạng quốc tế. Xuất phát điểm của chủ trương này là ý muốn xác định
khoảng cách giữa các trường đại học TQ và các trường ĐHĐCQT và tìm hiểu
những nhân tố nào đưa một trường đại học lên hàng đẳng cấp quốc tế. Viện
Nghiên cứu Giáo dục Đại học của Đại học Giao thông Thượng Hải đã tiến
hành thu thập dữ liệu của 500 trường đại học trên toàn thế giới theo
những tiêu chí xác định, có thể xác minh được, và tiến hành xếp hạng.
Bảng xếp hạng này trở thành rất nổi tiếng và được coi là một trong hai
hệ thống xếp hạng quốc tế được biết đến rộng rãi nhất trên toàn thế
giới. Năm 2005 họ đã đưa ra một danh sách xếp hạng hầu như hoàn toàn dựa
trên những sản phẩm và kết quả nghiên cứu của các trường. TQ cũng đứng
ra tổ chức Hội thảo Quốc tế về WCU năm 2005 tập hợp hàng trăm nhà khoa
học trên toàn thế giới để bàn về chủ đề này.
Ngoài
xếp hạng quốc tế, TQ còn thực hiện xếp hạng quốc gia. Từ giữa thập kỷ
90, việc xếp hạng các trường đại học trở thành một hiện tượng phổ biến ở
TQ. Có năm chương trình xếp hạng có ảnh hưởng mạnh, trong đó có 4 là
xếp hạng trường. Kết quả xếp hạng được coi là một nguồn thông tin quan
trọng đối với sinh viên và phụ huynh. Các trường đại học và Chính phủ
cũng hết sức quan tâm chú ý tới việc xếp hạng. Dù có nhiều trở ngại
trong vấn đề xếp hạng các trường đại học ở TQ, đặc biệt là những vấn đề
liên quan tới sự sẵn sàng và độ tin cậy của dữ liệu, kết quả xếp hạng
cũng đem lại cho sinh viên một ý niệm đại khái về địa vị của mỗi trường
đại học.
Về
mặt quản lý, Bộ Giáo dục TQ tuy không còn giữ lề lối hoạt động trong
một xã hội được điều khiển bằng mệnh lệnh như trước đây, nhưng vẫn giữ
quyền kiểm soát những nhân tố chính của giáo dục đại học, như giảng viên
và số lượng sinh viên mỗi ngành học, mức thu học phí, việc bổ nhiệm các
chức vụ quản lý lãnh đạo cao cấp. Tuy vậy, trong bộ khung hành chính
quan liêu này, các trường đại học cũng có quyền tự chủ nhiều hơn trong
việc quyết định nội dung chương trình đào tạo, thành lập những viện
nghiên cứu mới, thay đổi cơ cấu tổ chức nhà trường, và xác lập những ưu
tiên về tài chính.
Chiến lược xây dựng trường ĐHĐCQT của các trường đại học TQ
Tuyển dụng nhân sự trên phạm vi toàn cầu và tăng cường quốc tế hóa:
Các
trường đại học TQ hiểu rõ con người là nhân tố quyết định cho thành
công của một trường đại học. Họ không có đủ sức mạnh tài chính để lôi
cuốn được những giáo sư đẳng cấp quốc tế với số lượng đủ để đảm bảo cho
hoạt động của một trường, thay vào đó, họ có chủ trương rất rõ ràng nhằm
thu hút những trí thức Hoa kiều và những người TQ được đào tạo từ các
nước phương Tây. Các trường đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải đặc biệt
thành công trong việc thu hút những người học ở nước ngoài trở về nhận
những vị trí nghiên cứu và giảng dạy. Có khi họ trở về ở hẳn TQ, có khi
họ thương lượng một chế độ qua lại thường xuyên cho phép họ duy trì
cương vị của họ ở phương Tây trong lúc bỏ ra nhiều tháng mỗi năm làm
việc tại TQ.
Nếu
những người TQ được đào tạo ở phương Tây có thể có nhà ở, xe cộ, những
phương tiện văn hóa và trường học tốt cho con cái họ, thì trở về TQ
không còn là một sự hy sinh như trong quá khứ. Dùng những người trở về
này thay cho các chuyên gia nước ngoài cũng sẽ thích hợp hơn với mục
tiêu của TQ trong việc tự lực và tăng sức cạnh tranh dài hạn. Mặc dù chi
phí của các đại học TQ tăng cao vì mức lương của những người trở về này
phải đủ sức cạnh tranh quốc tế, trong những lĩnh vực được ưu tiên cao
(đặc biệt là trong khoa học và kỹ thuật), sự đầu tư này được coi là
thiết yếu để tạo ra những chương trình giảng dạy và nghiên cứu với những
phương pháp và lý thuyết tối tân nhất. Thêm vào đó, cơ sở vật chất mới
cũng tạo điều kiện cho các trường đại học TQ tuyển mộ giảng viên và cán
bộ nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu, nhất là các khoa học gia người TQ
có bằng tiến sĩ ở châu Âu.
Để
tăng cường tính chất quốc tế hóa, TQ cũng đang nỗ lực để trở thành thỏi
nam châm thu hút sinh viên nước ngoài, thường là từ các quốc gia châu
Á, chứ không chỉ quan tâm đến việc gửi nhân tài của họ sang phương Tây.
Mục tiêu của họ là 100,000 sinh viên nước ngoài đến học tại TQ trong một
tương lai gần. Mặc dù các trường đại học TQ vẫn tiếp tục đưa ra những
chương trình học ngắn hạn về ngôn ngữ và văn hóa cho người nước ngoài,
phần lớn là người Mỹ, ngày càng có nhiều trường đào tạo sinh viên nước
ngoài cả trong những ngành học khác và cấp bằng chính quy cho họ. Với
quyết tâm xác định vị trí của mình một cách tích cực trong bối cảnh toàn
cầu, các trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở TQ rất thiết tha với các
hoạt động hợp tác quốc tế. Đã có nhiều thành công đạt được trong những
chương trình trao đổi sinh viên và liên kết đào tạo. Nhiều trường đang
có những tiến bộ vượt bậc trong việc thu hút sinh viên quốc tế và xây
dựng những chương trình hợp tác nghiên cứu. Họ đang cố gắng vận dụng
những tiêu chuẩn đánh giá có tính chất quốc tế đối với đội ngũ giảng
viên của mình cũng như đối với các chương trình đào tạo.
Đầu tư mạnh vào phòng thí nghiệm và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu
Các
trường đại học TQ rất chú trọng nghiên cứu và đào tạo về khoa học kỹ
thuật, đầu tư các nguồn quỹ mà họ có quyền chủ động sử dụng vào việc xây
dựng những phòng thí nghiệm mới với những thiết bị kỹ thuật tối tân.
Việc cộng tác với các đại học nước ngoài là một cách đã được thử thách
qua thời gian để các đại học TQ khởi động những chương trình nghiên cứu ở
trình độ quốc tế.
Năm
1986, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đầu tiên được xây dựng tại
Đại học Bắc Kinh. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của các đại học nghiên
cứu cùng với khoản tài trợ nghiên cứu và phát triển cho các phòng thí
nghiệm được Nhà nước Trung ương hỗ trợ và đặt tại các trường đại học, và
việc các nghiên cứu của trường đại học được xem như một bộ phận của hệ
thống nghiên cứu khoa học cơ bản của quốc gia. Ý tưởng thành lập các
phòng nghiên cứu trọng điểm của quốc gia và đặt tại các trường đại học
thực ra là học tập từ mô hình của các trường đại học nghiên cứu ở Hoa
Kỳ. Trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, chủ trương tài
trợ của Nhà nước Liên bang Hoa Kỳ đối với việc nghiên cứu của các trường
đại học đã ảnh hưởng mạnh đến việc cải cách hệ thống nghiên cứu khoa
học ở Trung Quốc.Ví dụ phổ biến nhất là Phòng Thí nghiệm Quốc gia
Lawrence Berkeley, Phòng Thí
nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, và Phòng Thí nghiệm Quốc gia Los
Alamos tại hệ thống đại học California. Trong lúc các phòng thí nghiệm
quốc gia tại các trường đại học Trung Quốc hầu hết dựa trên cơ sở chuyên
ngành nhằm mục đích tạo ra các trung tâm chất lượng cao trong từng lĩnh
vực, sự thành lập của những phòng thí nghiệm ấy biểu hiện niềm hy vọng
các trường đại học Trung Quốc rồi đây sẽ có được những phòng nghiên cứu
giống như những phòng nghiên cứu mà Đại học California đang có.
Dựa
trên những thông tin của Mạng lưới Nghiên cứu và Giáo dục Trung Quốc,
đến năm 2002 đã có 91 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tại các
trường đại học hàng đầu. Hiện nay chỉ riêng Đại học Bắc Kinh đã có 13
phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia như thế, những công trình nghiên
cứu tại đó gắn chặt với những vấn đề khẩn thiết nhất của quốc gia trong
việc phát triển.
Xây dựng các trường đại học nghiên cứu và coi nghiên cứu như là một chức năng chính ở các trường trọng điểm khác.
Trong
thập kỷ 50, TQ áp dụng mô hình Xô Viết về việc thành lập các viện
nghiên cứu độc lập và nằm ngoài trường đại học, kể cả Viện Hàn lâm Khoa
học Quốc gia TQ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội TQ, Viện Nghiên cứu Nông
nghiệp. Những viện hàn lâm này có hàng trăm viện nghiên cứu bao gồm tất
cả các lãnh vực chuyên ngành. Cho đến thập kỷ 80, hầu hết các hoạt động
nghiên cứu ở TQ đều được thực hiện ở các viện nghiên cứu độc lập này,
còn nhiệm vụ chính của các trường đại học chỉ là giảng dạy. Chủ trương
xây dựng ĐHĐCQT khiến Nhà nước TQ phải xem lại điều này. Không phải ngẫu
nhiên mà hệ thống tiêu chí xếp hạng quốc tế của SJTU rất xem trọng
thành quả nghiên cứu của các trường. Thành tích nghiên cứu hiển nhiên là
tác động trực tiếp tới uy tín của nhà trường, hiển nhiên là tác động
tới trình độ phát triển của quốc gia, và chắc chắn có ảnh hưởng tích cực
đối với việc giảng dạy và đào tạo. Vì vậy những trường đại học hàng đầu
và được đầu tư trọng điểm ở TQ để đạt đẳng cấp quốc tế đều xác định rõ
định hướng nghiên cứu của mình. Quỹ Khoa học Quốc gia TQ thành lập năm
1986 đã mang lại cho các trường đại học TQ cơ hội cạnh tranh các nguồn
tài trợ dành cho việc nghiên cứu. Việc dựa trên những sáng kiến nghiên
cứu của Bộ Khoa học Công nghệ và các bộ khác trong Chính phủ TQ trong
thập kỷ 80 và 90 cũng tạo cho các trường đại học TQ thêm nhiều cơ hội
quan trọng. Đồng thời, bản thân các trường đại học khác cũng bắt đầu chú
trọng hơn đến công tác nghiên cứu, vì nghiên cứu đã được thừa nhận là
một chức năng trọng yếu của nhiều trường đại học ở TQ. Nhà nước TQ tiến
hành phân loại đại học nghiên cứu loại 1, loại 2, v.v…căn cứ vào tỷ lệ
sinh viên cao học, và những trường được phân loại là đại học nghiên cứu
được cấp kinh phí cao hơn. Các giáo sư ở những trường hàng đầu TQ đang
dành thời gian cho nghiên cứu nhiều hơn là giảng dạy. Một số lớn các
giáo sư và phó giáo sư chẳng hề dạy một môn nào ở bậc đại học. Để nâng
cao chất lượng đào tạo bậc đại học, Bộ Giáo dục thậm chí đã phải ban
hành một hướng dẫn năm 2003 yêu cầu các giáo sư và phó giáo sư phải tham
gia giảng dạy ở bậc đại học.
Sự
thành công của các trường đại học nghiên cứu Hoa Kỳ đã được công nhận
là một khuôn mẫu cho giáo dục đại học trên toàn thế giới. Ở thập kỷ 80
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thậm
chí đã bắt đầu thảo luận về mô hình hệ thống nghiên cứu khoa học của
Hoa Kỳ. Mô hình Hoa Kỳ có một tác động rất lớn đối với hệ thống giáo dục
đại học Trung Quốc. Từ năm 1978, hàng ngàn giảng viên và sinh viên
Trung Quốc đã đổ xô vào Hoa Kỳ vì họ quan tâm đến giáo dục và tri thức
bậc cao. Rất nhiều hội thảo và ấn phẩm tập trung vào các trường đại học
nghiên cứu Hoa Kỳ: họ đã hoạt động như thế nào và chúng ta có thể học
tập ở họ những gì. Kinh nghiệm Hoa Kỳ đã trở thành cội nguồn cho rất
nhiều ý tưởng về cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc, trong đó có ý
tưởng về xây dựng các trường đại học nghiên cứu.
2- Những kết quả mà TQ đã đạt được
Thành tựu
Cùng
với sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đại học tại TQ và sự hỗ trợ
tài chính mạnh mẽ của Chính phủ TQ, các trường đại học nghiên cứu hàng
đầu của TQ đang có những bước đi quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt
động chuyên môn của họ và tạo ra những tiến bộ rất đáng kể nhằm đạt mục
tiêu chiến lược của họ là trở thành những trường ĐHĐCQT.
Trong
khoảng từ năm 2000 đến 2005, số lượng công bố khoa học của các trường
đại học nghiên cứu hàng đầu trong danh mục SCI đã tăng gấp đôi. Đại học
Thanh Hoa đã có khoảng 2700 bài báo được liệt kê trong danh mục SCI năm
2003, gần bằng con số của các trường hàng đầu thuộc top 50 của thế giới.
Các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ cũng đã bắt đầu nhấn mạnh
đến chất lượng của các công bố khoa học bằng cách khen thưởng những bài
báo có tỉ lệ được trích dẫn cao hoặc xuất hiện trên những tạp chí
chuyên môn danh tiếng. Xu Tian, nhà nghiên cứu di truyền học hàng đầu
được đào tạo tại Đại học Yale và hiện nay vẫn đang dạy tại đó, phụ trách
một phòng thí nghiệm ở Đại học Phúc Đán nơi tiến hành những nghiên cứu
về biến đổi gene. Ngày 12 tháng 8 năm 2005, nghiên cứu có tính đột phá
của ông đã được nêu trên trang bìa của tờ tạp chí nghiên cứu uy tín lừng
lẫy- Tạp chí Nghiên cứu Các Tế bào- lần đầu tiên một khoa học gia TQ có
vinh dự ấy!
Số
giảng viên có bằng tiến sĩ đã đạt đến 50% ở các trường đại học nghiên
cứu hàng đầu của TQ tính đến năm 2005 và hy vọng sẽ đạt đến 75% trước
năm 2010. Những trường này cam kết nâng cao số giảng viên có bằng tiến
sĩ từ các trường ĐHĐCQT. Các nhà quản lý của Đại học Bắc Kinh ước lượng
khoảng 40% cán bộ giảng dạy của họ được đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu là
ở Mỹ.
Thêm
vào đó, họ còn nỗ lực đặc biệt để lôi cuốn các giáo sư đẳng cấp quốc tế
bằng nhiều cách. Trường Đại học Bắc Kinh đã lôi kéo được tài năng của
Tian Gang- một nhà toán học hàng đầu của MIT, trong việc xây dựng một
trung tâm nghiên cứu quốc tế về toán cao cấp trong số các trung tâm
nghiên cứu trình độ cao khác.
Tỉ
lệ của học viên sau đại học (kể cả các khóa học chuyên môn) với sinh
viên đại học vẫn còn ở mức 1:1. Các trường đại học đang phải đấu tranh
với việc nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, đặc biệt là năng lực
sáng tạo và đổi mới của một bộ phận nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nghiên cứu
sinh tiến sĩ thường được yêu cầu có bài đăng trên tạp chí quốc tế trước
khi có thể bảo vệ luận án.
Nhìn
rộng ra cả hệ thống, chỉ trong vòng một thế hệ, kể từ năm 1978, TQ đã
đưa tỉ lệ những người trong độ tuổi vào đại học từ 1,4% lên đến 20%. Chỉ
riêng trong lãnh vực kỹ thuật, TQ tạo ra 442,000 cử nhân hằng năm, cùng
với 48,000 người hoàn tất bằng thạc sĩ và 8,000 người đạt học vị tiến
sĩ.
Tuy
vậy, cho đến nay chỉ có Trường Đại học Bắc Kinh và một vài trường hàng
đầu của TQ là được thế giới công nhận là có chất lượng cao. Tiêu chí số
lượng bài báo khoa học trong danh mục SCIE và SSCI tính trên đầu người
được đưa ra nhằm phản ánh hiện tượng cạnh tranh quốc tế ngày càng phát
triển và đặt TQ trong một bối cảnh có tính chất quốc tế. Con số thấp
nhất về tỉ lệ công bố khoa học trên đầu người trong số 60 trường thành
viên của Hiệp hội Các trường Đại học Hoa Kỳ được chọn làm tiêu chuẩn cho
TQ, chỉ số này được xác định là 0,7 trong năm 2004. Chỉ có 10 trường
đại học TQ có được chỉ số này ở trên mức tối thiểu của Hoa Kỳ.
Khoảng cách, và những thử thách đang đặt ra
Trong
bảng xếp hạng quốc tế của SJTU năm 2005, không một trường đại học TQ
nào lọt vào danh sách 200 trường hàng đầu trên thế giới. Chỉ có 8 trường
đại học TQ lọt vào danh sách 500 trường hàng đầu. Vị trí cao nhất mà
các trường đại học TQ đạt được là trong khoảng 151 đến 2003.
Còn trong bảng xếp hạng THES cùng năm, Đại học Bắc Kinh được xếp thứ
15, và chỉ có 5 trường đại học TQ nằm trong top 200 mà thôi. Ba năm sau,
trong bảng xếp hạng năm 2008 cũng của SJTU thực hiện với cùng phương
pháp và tiêu chí, vẫn không có tên một trường đại học nào của Trung Quốc
trong danh sách 200 trường hàng đầu. Năm trường lọt vào thứ hạng cao
nhất từ 152-200 là Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại
học Nam Kinh, Đại học Giao Thông Thượng Hải, Đại học Chiết Giang,
Shanghai Jiao Tong University, tức là không có bước tiến nào đáng kể so
với kết quả xếp hạng năm 2005. Trong bảng xếp hạng THES năm 2008, chỉ có
2 trường đại học TQ lọt vào danh sách 100, nhưng lại tụt hạng so với
chính họ: Đại học Bắc Kinh xếp hạng 50 năm 2008 trong lúc được xếp hạng
36 năm 2007, hạng 14 năm 2006. Mặc dù giới khoa học quốc tế gièm pha,
chê bai cả hai hệ thống xếp hạng này vì những đánh giá không thỏa đáng
về chất lượng, nhưng các trường đại học TQ thì nhìn vấn đề này một cách
nghiêm túc như là một chỉ số cho thấy vị trí cạnh tranh của họ. Họ
biết rằng phải mất một thế hệ hoặc hơn nữa để các trường đại học TQ có
thể có chất lượng thực sự ngang bằng với những trường của Âu Mỹ. Các học
giả TQ không phải là không có lý khi nghĩ như vậy, vì mặc cho mọi khác
biệt về phương pháp và kỹ thuật, vẫn có một sự đồng thuận rất cao giữa
hai hệ thống xếp hạng về 12 vị trí đầu tiên của bảng xếp hạng, điều này
cho thấy uy tín của các trường ĐHĐCQT là một thực thể thực sự tồn tại khách quan và đo lường được.
Điểm
phân biệt chủ yếu giữa các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ và
các trường đại học đẳng cấp quốc tế là chất lượng của giảng viên và
nghiên cứu, được thể hiện qua số cán bộ khoa học đoạt được các giải
thưởng khoa học quốc tế chính, qua số lượng tác giả được nhiều nhà khoa
học khác nêu trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, qua số
lượng cán bộ giảng viên được đào tạo bậc tiến sĩ ở các trường đại học
đẳng cấp quốc tế, qua số lượng các bài báo khoa học được công bố quốc
tế, và qua một số nhân tố khác nữa.
Các
trường ĐHĐCQT có trung bình 4,4 giảng viên đoạt giải Nobel và Huy
chương của ngành, có trung bình 56 nhà nghiên cứu được nhiều người trích
dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, trong lúc không một trường
đại học nào ở TQ có được một cán bộ khoa học đạt giải Nobel hoặc Huy
chương Field. TQ cũng thiếu những tác giả được nhiều người trích dẫn
trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu.4
Hơn 85% giảng viên tại các trường đại học đẳng cấp quốc tế có bằng tiến sĩ do các trường thuộc top 100 trên toàn thế giới cấp, trong lúc con số này chỉ là 10% ở các trường đại học TQ hàng đầu như Đại học Thanh Hoa hay Đại học Bắc Kinh5. Số trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo khoa học trong Danh mục Trích dẫn Khoa học- SCI vào khoảng từ 2 đến 3 đối với các đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ như Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh, so với 25 ở Harvard 6.
Sự
kiểm soát của Nhà nước đối với các trường đại học TQ đang giảm đi. Tuy
vậy Nhà nước TQ vẫn giữ ảnh hưởng mạnh mẽ thông qua việc phân bổ nguồn
lực, chuẩn thuận chương trình đào tạo, đánh giá dự án, và vô số các buổi
họp hành. Vẫn còn một chặng đường rất dài để các trường đại học TQ có
thể đạt được sự mở rộng quyền tự chủ. Vì năng lực đổi mới kỹ thuật của
công nghệ TQ rất yếu kém, Nhà nước khuyến khích các trường đại học
nghiên cứu phục vụ việc phát triển kinh tế của quốc gia. Phần lớn các
nghiên cứu thực hiện ở TQ là nghiên cứu ứng dụng và tuyệt đại đa số là
có liên quan đến phát triển công nghệ. Nghiên cứu cơ bản vẫn còn là một thứ xa xỉ đối với các trường đại học nghiên cứu ở TQ.
Chỉ
có một số rất nhỏ các giáo sư đại học thực hiện việc nghiên cứu vì
những mối quan tâm thuần túy khoa học. Phần lớn họ dạy học và làm nghiên
cứu như một cách để kiếm sống. Chất lượng giảng viên, tiêu chí đề bạt,
và quy trình đánh giá còn rất xa so với ước muốn xây dựng trường đại học
đẳng cấp quốc tế. Vì vậy, cải cách triệt để, tận gốc rễ là một điều hết
sức thiết yếu.
Bên
cạnh đó, cuộc cạnh tranh giữa Viện Hàn lâm Khoa học TQ và các trường
đại học đang ngày càng mạnh mẽ. Viện Hàn lâm được bảo đảm quyền cấp bằng
sau đại học, và mục đích của họ là đạt được 50.000 nghiên cứu sinh
trước năm 2020. Hơn nữa, họ còn có ngân sách bổ sung do Nhà nước Trung
ương cấp bên cạnh ngân sách hoạt động thường xuyên. Bởi vậy khả năng
cạnh tranh của họ trong những khoản tài trợ nghiên cứu chính và đáp ứng
nhu cầu của đất nước sẽ tăng lên.
Dù
các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đang tìm cách trở thành
đại học đẳng cấp quốc tế, họ đang chú ý nhiều hơn đến cạnh tranh trong
nước thay vì cạnh tranh quốc tế để duy trì vị thế hiện tại và giành các
nguồn lực cần thiết, điều này làm giảm sự tập trung trong những nỗ lực
cạnh tranh quốc tế của họ.
3- Bài học Trung Quốc
Qua
con đường của TQ và những thành tựu mà họ đạt được đã nêu tóm tắt trên
đây, có thể nói, nhờ Nhà nước TQ có chính sách đẩy mạnh giáo dục đại
học, TQ đã tiến một bước rất dài trong việc đại chúng hóa giáo dục đại
học, và đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. Tuy nhiên, kể từ khi
Chính phủ TQ chính thức tuyên bố tham vọng có được những trường đại học
đẳng cấp quốc tế vào năm 1998 đến nay, mười năm đã trôi qua cùng với
những khoản đầu tư khổng lồ, khoảng cách của các trường đại học hàng đầu
của TQ với những trường đẳng cấp quốc tế vẫn còn rất xa.
Năm
2005, Tạp chí McKinsey đã thực hiện một nghiên cứu về thị trường lao
động TQ và kết luận, thật nghịch lý là TQ có hàng triệu người tốt nghiệp
đại học nhưng lại thiếu nhân tài. Diana Farrell và Andrew J. Grant ước
lượng chỉ khoảng 10% các kỹ sư trẻ người TQ có những kỹ năng thích hợp
cho công việc trong các doanh nghiệp đa quốc gia; số còn lại không có đủ
kỹ năng ngôn ngữ và những hiểu biết văn hóa cần thiết để thực hiện chức
phận của mình trong những công việc có tính cạnh tranh cao. Truyền
thống giáo dục của TQ là một trong những thủ phạm gây ra vấn đề này.
Điển hình là lối dạy thuần túy thuyết giảng và lối học ghi nhớ: các giáo
sư thường đòi hỏi sinh viên phải nhớ bài giảng và những nội dung trong
sách giáo khoa rồi lặp lại trong các bài thi thay vì phải phát triển sự
hiểu biết thấu đáo và tinh thần sáng tạo. Đã vậy, sinh viên ngành kỹ
thuật còn phải chịu đựng những chương trình đào tạo đã quá lạc hậu. Có
rất ít cơ hội làm việc cùng nhau, cũng như không có dịp cho họ trải
nghiệm thế giới thực, và những vị trí thực tập thì không đủ cho tất cả
mọi người. Đặt những nhân tố này cùng nhau, các nhà phân tích McKinsey
kết luận rằng TQ sẽ không thể chuyển sang công nghiệp dịch vụ trong thập
kỷ tới và như vậy cũng không thể cạnh tranh ở mức toàn cầu về công nghệ
kỹ thuật cao trong tương lai gần7.
Hiển
nhiên là các học giả TQ biết rõ họ phải nỗ lực đẩy mạnh cải cách và tư
duy phê phán. Một số trường hàng đầu đã xây dựng chương trình giáo dục
tổng quát ở bậc đại học nhằm đem lại cho sinh viên một nền tảng kiến
thức rộng rãi hơn, mặc dù những nỗ lực này chưa đủ để đem lại những kết
quả mong đợi vì bị cấy ghép vào một hệ thống thi cử khắt khe và cứng
nhắc, một hệ thống vẫn còn đang ban thưởng cho sự học vẹt! Điều này chắc
chắn cũng sẽ phải thay đổi trong một vài năm tới đây.
Đó
là nói về giáo dục đại học TQ nói chung, còn nói riêng về giấc mộng
ĐHĐCQT của TQ, thì lý do chính khiến TQ chưa thể lọt vào danh sách các
trường hàng đầu trên thế giới là do TQ thiếu những tài năng đỉnh cao
trong khoa học cơ bản đủ để sánh bằng thành tích của các trường ĐHĐCQT. Một số nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các trường tỏ ra hết chịu đựng nổi cuộc tranh luận vẫn đang tiếp diễn về vấn đề ĐHĐCQT. Người ta bắt đầu nhận ra rằng xây dựng một ĐHĐCQT
là một quá trình lâu dài chứ không phải là kết quả tức thời của một ước
muốn và một số tiền đầu tư “một cục” khổng lồ. Thực ra, nhiều người
thậm chí còn hoài nghi về khả năng liệu TQ có thể thực sự xây dựng được
một ĐHĐCQT hay không, bởi vì những trường được công nhận rộng rãi là một mẫu mực về ĐHĐCQT
như Oxford ở Anh hay Harvard và Yale ở Hoa Kỳ đều đã phải trải qua hàng
thế kỷ phát triển. Chẳng những thế, những trường này đều đã rất tiến
triển trong một môi trường chính sách khác và hình thức khác của cơ cấu
quản lý đại học.
Thử đi tìm nguyên nhân
Nhà
nước TQ và giới học giả, giới quản lý giáo dục đại học có một quyết tâm
hết sức to lớn trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, và
đã dành nhiều nguồn lực tài chính lớn lao cho kế hoạch này, nhưng dường
như kết quả đạt được vẫn chưa được như họ mong đợi.
TQ
đang tập trung vào khoa học tự nhiên và kỹ thuật, những lĩnh vực phản
ánh nhu cầu phát triển của quốc gia, nhưng đồng thời cũng phản ánh sự
thiên vị của một hệ thống chính trị độc tài vốn ngăn cấm những phát biểu
tự do. Khoa học xã hội và nhân văn thường liên quan tới những ý tưởng
phê phán về chính trị, kinh tế và lịch sử. Nhà nước ít nhấn mạnh đến
việc đạt đẳng cấp quốc tế trong những môn này. Tuy vậy, nhiều người TQ
cũng nhận định –thường là một cách gián tiếp- rằng việc hạn chế những
cuộc tranh luận khoa học có thể cản trở những nỗ lực tạo ra các trường
ĐHĐCQT.
Lin
Jianhua, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bắc Kinh nhận định: “Hiện nay,
tôi cho rằng chẳng có trường đại học nào ở TQ có một bầu không khí có
thể so sánh được với các trường đại học lâu đời ở phương Tây- Harvard
hay Oxford- về mặt tự do diễn đạt ý tưởng” (…)Chúng ta cố gắng đem lại
cho sinh viên một môi trường tốt hơn, nhưng để có thể làm được điều đó,
cần có thời gian. Không phải là 10 năm, mà là một hay hai thế hệ”8.
Ge
Jianxiong, một nhà địa lý lỗi lạc ở Đại học Phúc Đán, nói rằng văn hóa
Trung Hoa đòi hỏi những kết quả nhanh chóng, điều này có thể xói mòn
việc nghiên cứu. “Ở TQ, các dự án thường ngắn hạn, thông thường là 3
năm. Sau đó người ta đòi hỏi phải có các ấn phẩm đồ sộ. Trong những cuộc
nghiên cứu thực sự, cần phải cho các nhà khoa học sự tự do cần thiết để
có được kết quả tốt, chứ không chỉ là kết quả mà người ta muốn”. Trong
khi đó, cơ chế bảo đảm quyền tự do học thuật ở phương Tây cho phép một
nhà khoa học có thể chẳng có một bài nghiên cứu nào được công bố trong
hàng chục năm, để rồi đến năm thứ mười chẳng hạn, thì công bố một bài
báo đưa ra cách giải quyết cho những câu hỏi đã tồn tại hàng trăm năm
nay mà chưa có lời đáp!
Ge
bổ sung thêm những khó khăn của giáo dục khi nó luôn luôn được coi là
công cụ của chính trị. Điểm yếu lớn nhất, như nhiều nhà khoa học TQ đã
cho biết, là sự thiếu vắng tự do học thuật. Yang, nguyên Hiệu trưởng
Trường Đại học Phúc Đán, cảnh báo rằng nếu không xây dựng được một bầu
không khí đúng đắn, những bộ óc vĩ đại ở nước ngoài có thể sẽ chỉ đến TQ
một hay hai năm là tìm đường rút vì bực bội.
Gong Ke, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thanh Hoa, nói rằng các trường đại học “có bổn phận bảo đảm cho tự do học thuật”.
"Chúng
tôi có những giáo sư dạy ở đây, người nước ngoài, đang dạy rất khác với
quan điểm của chính phủ TQ”. Ông nói thêm: “Có những người phê phán
mạnh chính sách kinh tế của TQ”.
Điều cần nhất bây giờ, như các nhà khoa học giỏi nhất của TQ nói, và nhấn mạnh, là những bộ óc độc đáo.
Điều
vĩ đại nhất mà TQ đã làm được trong 20 năm qua là đưa 200 triệu người
thoát cảnh đói nghèo. Xu nói: “Tuy vậy, TQ vẫn chưa nhận ra rằng nếu
muốn tiến lên một trình độ mới, thì phải hiểu rằng các con số là không
đủ. Chúng ta cần một cuộc cách mạng mới để đưa chúng ta ra khỏi nền văn
hóa mà giải thưởng là trở thành quan chức Nhà nước. Chúng ta phải học
cách ban thưởng cho những đổi mới thực sự, cho những tư tưởng độc lập,
và những công trình học thuật chính cống!”9
Phải
chăng tình trạng thiếu vắng tự do học thuật là nguyên nhân khiến các
trường hàng đầu ở TQ chưa thể đi xa hơn được, dù quyết tâm của Chính phủ
rất lớn và đầu tư cũng không nhỏ? Liệu điều này có thể giải thích những
hạn chế của hệ thống giáo dục đại học TQ, khi tự do học thuật không
phải là vấn đề đối với các bộ môn khoa học kỹ thuật và ứng dụng, những
lĩnh vực mà Nhà nước TQ rất khuyến khích?
Có
lẽ câu trả lời phải tìm không chỉ trong những nhân tố về thể chế, mà
còn trong những nhân tố văn hóa. Nền giáo dục TQ chưa bao giờ thoát ly
hoàn toàn truyền thống Khổng giáo, nơi người ta đi học là để tiếp thu
những chân lý có sẵn của thánh hiền, chứ không phải để thử thách hay cọ
xát với những tri thức đã có. Điều này tất nhiên ảnh hưởng lớn đến
phương pháp dạy và học trong nhà trường và không khuyến khích tinh thần
phản biện, tinh thần tự do sáng tạo, là những nhân tố cốt yếu của đời
sống đại học, và là những nhân tố quyết định đối với năng lực nghiên
cứu.
4- Kết luận
Thực
tiễn xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở Trung Quốc cho chúng ta thấy
quyết tâm của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó giúp mang lại
những nguồn lực cần thiết cho các trường để thực hiện nâng cao chất
lượng hoạt động. Tuy nhiên, chỉ nguồn lực thôi thì không đủ để tạo ra
được những thay đổi mong đợi. TQ đã đi từ Dự án 211 đến Dự án 985 theo
hướng tập trung tăng cường nguồn lực tài chính cho một số ít trường
trọng điểm, rồi lại tiếp tục đến dự án 111 theo hướng “mua” người tài từ
bên ngoài về để tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích
nghiên cứu, nhưng kết quả vẫn không được như họ mong muốn, bởi vì đó vẫn
chỉ là những giải pháp đắp vá. Phải chăng TQ đã nhắm đến những nhân tố
bề ngoài, những thứ ở phần ngọn, những biểu hiện của kết quả hoạt động
chẳng hạn số lượng công bố khoa học và trích dẫn, thay vì phải nhắm vào
những nhân tố bên trong, những thứ có ý nghĩa cốt lõi và là nguyên nhân
của thành công, chẳng hạn những chính ách thực sự giải phóng năng lực
của con người? Phải chăng những chính sách ấy chính là điều mà TQ cần,
để tạo ra một tầng lớp trí thức có thể sáng tạo ra những giá trị tinh
thần thực sự, vì chỉ với những giá trị ấy, trường đại học mới thực sự là
nơi kiến tạo tri thức, vun trồng tài năng và thực hiện được sứ mệnh của
nó? Xét cho cùng, thứ hạng trong bảng xếp hạng chỉ quan trọng nếu nó
phản ánh được mức độ đạt được sứ mạng mà một trường đại học phải thực
hiện. Đó là sứ mạng làm động lực thúc đẩy sự phát triển của từng cá
nhân, của cả cộng đồng, của từng quốc gia và sau hết là sự tiến bộ của
toàn thể nhân loại.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1 Nian Cai Liu, 2005. Research Universities in China: Differentiation, Classsification, and Future World-Class Status
2 Nguồn: QS Quacquarelli Symonds (www.topuniversities.com)
3Institute of Higher Education, Shanghai Jiao Tong University 2005. Academic ranking of world universities-2005.http://ed.sjtu.edu.cn/ranking.htm.
4 Cheng, Y., S. X. Liu. 2005. When will Chinese universities be able to become world – class? Journal of Higher Education 26 (4) : 1-6
5 Jiang, Y., P. 2004. The origins of doctoral degrees of faculty members in world-class universities. Jiangsu Gaojiao no. 4: 106-09.
6 Nian Cai Liu, 2005. Bài đã dẫn
7 Kathryn Mohrman 2005. Nguồn: http://www.saisjhu.edu/pubaffairs/publications/saisphere/winter06/
8 Howard W. French 2005. Nguồn: The International Herald Tribune, 27 October 2005
9 Howard W. French 2005. Bài đã dẫn
Nguồn: Tia Sáng
