Copyrights @ Journal 2014 - Designed By Templateism - SEO Plugin by MyBloggerLab

Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

24 tháng 3, 2013

, ,

Nhà văn Nguyên Ngọc: Dân chủ không phải cái đem cho

Giải phóng đích thực bao giờ cũng là tự giải phóng. Dân chủ không phải là cái đem cho. Hơn ở đâu hết, trong giáo dục điều ấy càng rõ và thiết yếu.

- Được biết ông từng đứng lớp, bằng quan sát của mình, theo ông, có khác biệt nhiều không giữa học trò giỏi và học trò kém? Đó có phải là ở thái độ và kết quả học tập?

- Trước đây tôi có đi dạy, gần đây có đứng lớp, chưa nhiều, và có làm việc với sinh viên, cũng chưa thật nhiều lắm. Nhưng cũng đủ để tôi nhận ra một điều, đối với tôi là hết sức thú vị, tôi đã nhiều lần kiểm tra, thấy là đúng.

Điều ấy thế này: Nói chung không có học trò kém, có lẽ trừ một số ít trường hợp rất cá biệt, ở rất ít người có thể bị "tai nạn" tổn thương về mặt sinh lý thế nào đấy. Còn thì ở mỗi người, mỗi học sinh, mỗi sinh viên đều có một điểm gì đó đặc sắc.

- Nếu mỗi người đều có những tiềm năng đặc biệt thì theo ông tại sao trên thực tế, có người xuất sắc, có người không?

- Sở dĩ điều đó không bộc lộ ra có lẽ chủ yếu là vì hai nguyên nhân: Thứ nhất, chúng ta muốn mọi người đều giống nhau. Muốn đào tạo nên những người giống hệt nhau, có những đặc sắc y như nhau, mà nhân loại thì đa dạng đến vô tận, thậm chí trong suốt lịch sử không bao giờ có hai người hoàn toàn lặp lại.

Thứ hai, ta còn dở, không nhận ra được cái đặc sắc tiềm ẩn trong từng người. Và điều này còn quan trọng hơn nhiều, chính người đó, em học sinh hay sinh viên đó cũng không nhận ra được chỗ đặc sắc riêng của mình, chính em cũng yên trí mình tầm thường, vô vị, thậm chí u mê, dốt nát, và yên phận với số kiếp "trời đày", "bẩm sinh" ấy, thường khi suốt đời.



- Vậy tức là nền GD của chúng ta đã sai ngay từ cách đặt vấn đề?

- Tôi nghĩ chính sự khác biệt của từng cá thể chứa đựng toàn bộ ý nghĩa, thiên chức, có thể cả nội dung của công cuộc thiêng liêng mà ta gọi là GD. Giáo dục trước hết phải bắt đầu bằng niềm tin rằng mọi người, mỗi người đều đặc sắc, đều chứa sâu trong mình, giấu kín trong mình một năng lực nào đó.

Tạo hóa không bất công với ai hết, ai cũng giỏi về một cái gì đó, người cái này, người cái khác. Không có niềm tin ấy thì không thể, cũng không nên làm GD.

Ý nghĩa của GD, thiên chức của nó, điều khiến nó là nghề cao quý nhất là ở chỗ nó làm công việc khó khăn và thú vị nhất, hay ho và hạnh phúc nhất: Tìm cho ra, phát hiện và giải phóng cái đặc sắc chìm ẩn trong mỗi học sinh, sinh viên.

Hoặc nói cho đúng hơn, GD là giúp cho mỗi con người, mỗi học sinh, mỗi sinh viên trước hết tin rằng mình là đặc sắc. Rằng mình có đặc sắc riêng, tự mình dò tìm và nhận ra được cái đặc sắc ấy, và tự giải phóng nó, vì mình và vì xã hội, để cho mình tự tin làm người đàng hoàng, và đem cái đặc sắc của mình cống hiến cho xã hội.

Như vậy, hiểu cho thật đúng, GD là một cuộc tìm kiếm và giải phóng. Người thầy tìm kiếm cái đặc sắc riêng ở mỗi người học. Người học tự tìm kiếm trong chính mình, tìm kiếm cho ra chỗ đặc sắc riêng của mình, cùng với, hợp tác khăng khít với người bạn lớn là người thầy. Một cuộc dò tìm, tự dò tìm đẹp nhất trong mọi dò tìm, khám phá ở đời.

Đánh thức

- Điều đó mang đến cho việc giảng dạy và học tập những ý nghĩa mới, khác hơn rất nhiều với những gì chúng ta đang cảm thấy, và dường như thấy sai ở một chỗ nào đó chưa xác định được?

- Có rất nhiều khía cạnh sâu sắc khi GD được nhìn và hiểu như vậy.

Trước hết GD sâu đậm tính nhân văn, và GD cũng dân chủ sâu sắc nhất. Nhân văn thì quá rõ rồi, vì nó nhằm giải phóng những gì tốt đẹp nhất ở con người. Con người càng đậm chất người khi biểu lộ được tất cả những gì tốt đẹp nhất trong mình.

Dân chủ, vì giải phóng đích thực bao giờ cũng là tự giải phóng. Dân chủ không phải là cái đem cho, dân chủ đem cho thì không phải là dân chủ, dân chủ là giúp cho người ta vùng lên tự giải phóng. Hơn ở đâu hết, trong GD điều ấy càng rõ và thiết yếu.

Như vậy GD quả là công cuộc vô cùng khó khăn, phức tạp, tinh tế (còn gì phức tạp, tinh tế hơn con người, từng con người), nhưng cũng là công việc luôn mới mẻ và đầy hạnh phúc, hạnh phúc nhất.

Luôn mới và hạnh phúc vì mỗi lần ta lại đứng trước một con người, một thế giới mới, khác biệt, chưa từng có, vô cùng bí mật, để mà bắt đầu một cuộc dò tìm và khám phá, giải phóng mới, chưa từng có.

Đi học là hạnh phúc vì được làm cuộc dò tìm trong thế giới của chính mình, đối với chính mình, cũng hết sức bí ẩn, tự khám phá và tự giải phóng. Nói theo cách nào đó, đi học là "tự sinh ra mỗi ngày".

Giáo dục là sáng tạo, sáng tạo không ngừng. Mỗi lần lại tạo ra và tự tạo ra tác phẩm mới, chưa từng có. Tôi thường nghĩ đến Tchékov khi bàn đến GD, khi nói về dạy và học. Định nghĩa công việc của người nghệ sĩ tạc tượng trên đá, Tchékov bảo: Tạc một khuôn mặt vào tảng đá là tước đi khỏi tảng đá tất cả những gì không phải là khuôn mặt.

Bởi vì khuôn mặt vốn đã có trong tảng đá rồi, giấu kín trong đó rồi. Người nghệ sĩ là người tin sự hiện diện còn chưa bộc lộ, còn bị giấu kín ấy, nhìn thấy nó qua đá, và bằng động tác gọi là "sáng tác" lột nó ra khỏi tảng đá vốn nhốt nó.

Mỗi lần lại đánh thức, mỗi lần làm một cuộc đánh thức, và vì là đánh thức những gì tốt đẹp nhất, hay ho, mạnh mẽ nhất trong từng con người giữa vô số người vốn vô cùng đa dạng, nên chẳng có cuộc đánh thức nào giống cuộc nào. Vừa cơ bản vừa sáng tạo không ngừng. Giáo dục vì thế là một khoa học và một nghệ thuật, khoa học và nghệ thuật khó nhất và đẹp nhất.

- Tức là GD phải luôn sáng tạo, không khô cứng, không áp đặt?

- "Thao tác" chủ yếu của GD là khêu gợi, GD tuyệt đối đối lập với áp đặt. Bởi vì, dù có giỏi đến mấy người thầy cũng chỉ có thể giải phóng được tiềm năng của người học bằng tác động sao đó, cho người học tự giải phóng được chính mình.

Như ai cũng đã biết, đối với một người là vậy, mà đối với một dân tộc cũng vậy, không tự giải phóng, không tự mình vùng dậy, bằng sức lực của chính mình thì chỉ là giải phóng giả, rốt cuộc nô lệ vẫn mãi nô lệ! Mãi tăm tối, âm u. Giáo dục bằng áp đặt thì chỉ làm cho người ta u mê thêm.

Còn nữa



, ,

Giáo dục ĐH: Về tổng thể, ta vẫn đang đi xuống

GS.TSKH Phùng Hồ Hải - Ảnh: Thư Hiên
TTCT - “Muốn có người học giỏi thì phải có thầy giỏi, muốn có thầy giỏi thì thầy của thầy phải giỏi”.

GS.TSKH Phùng Hồ Hải, phó viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, nói với TTCT trong cuộc trò chuyện đầu năm về con đường phát triển giáo dục đại học mà ông cho là “không thể bước vội, càng không thể chạy đua” khi mà ngay cả chất lượng tối thiểu vẫn chưa đảm bảo. 

GS Phùng Hồ Hải nhận xét: 

- Chất lượng đào tạo đại học của mình đang rất không ổn. Riêng với ngành toán, ngành của tôi, thì có thể khẳng định là rất đáng báo động. Cách đây 10 năm, chúng tôi tưởng chúng ta chỉ thiếu tiền, thiếu điều kiện cơ sở vật chất để đào tạo cho tốt chứ không thiếu người học giỏi. Vì thế chúng tôi không ngừng tìm kiếm học bổng ở các trường đại học tốt cho sinh viên. Nhưng thực tế mà chúng tôi đang đối mặt là người học chứ không phải chỗ học ở nước ngoài. 

Bây giờ, nếu có sinh viên giỏi thì người ta có thể cho chúng tôi vài ba chục suất học bổng ngay lập tức. Nhưng việc tìm được khoảng mươi em đáp ứng được các tiêu chí về chất lượng để ra nước ngoài học không đơn giản. 

* Phải chăng chất lượng đầu vào thấp nên đầu ra khó mà cao, thưa giáo sư? 

- Nếu bảo do chất lượng đầu vào nghĩa là đổ lỗi cho người học. Không đúng! Tôi nghĩ là do chất lượng đào tạo, do chất lượng giảng viên của chúng ta thấp. Cần phải nhìn thẳng vào thực tế. Muốn có người học giỏi thì phải có thầy giỏi, muốn có thầy giỏi thì thầy của thầy phải giỏi. Thầy giỏi của chúng ta ít nên sinh viên của chúng ta chưa giỏi là phải thôi. 

Giải quyết vấn đề này thế nào đây? Tôi nghĩ là mình không thể đi nhanh được, “dục tốc bất đạt”. Không thể hi vọng trong thời gian ngắn mà xoay chuyển được tình thế. Bài học của nước Đức cách đây hơn chục năm là một ví dụ. Vì cần phát triển công nghệ thông tin, thủ tướng Đức khi ấy là ông Gerhard Schröder đưa ra một quy chế mới là cấp thẻ lưu trú cho 10.000 chuyên gia công nghệ thông tin, chủ yếu để hút chuyên gia giỏi từ Ấn Độ sang. Đó là một vấn đề lớn của Đức về chính trị nhưng ông Schröder vẫn chấp nhận. 

Tại sao, trong khi nước Đức có 100 trường đại học? Bởi vì ngay cả một nước phát triển như nước Đức khi phải giải quyết bài toán nhân lực cao cũng hiểu rằng 100 trường đại học của họ không dễ gì đào tạo ngay được 10.000 chuyên gia! Vậy mà nước mình đặt ra mục tiêu trong 10 năm đào tạo 20.000 tiến sĩ.

Chỉ có mươi trường đáng gọi là “University”

* Giáo sư lo rằng do nóng lòng tăng quy mô mà chất lượng không đảm bảo? 

- Rõ ràng là như thế! Việc mở rộng quy mô quá nhanh mà không quan tâm tới chất lượng những năm qua giống như việc ta đổ cả lít nước vào một cốc rượu, loãng ra hết nên không còn phân biệt được giỏi, kém! Chúng ta không có cơ chế phân biệt trường tốt và trường không tốt khiến những sinh viên giỏi thua thiệt. Bằng cấp của sinh viên tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu không hơn gì một cơ sở đào tạo làng nhàng khác. 

Người học bao giờ cũng nhìn vào thực tế. Nếu anh không cần học mà vẫn có hiệu quả thì mắc mớ gì anh phải học? Tuy nhiên gần đây đã có sự thay đổi theo tôi là đáng mừng từ một số nhà tuyển dụng. Họ phản ứng bằng cách cho vào sổ đen những cơ sở đào tạo kém. Nhiều nơi phản ứng, cho rằng làm như thế là trái luật. Tôi thì ủng hộ. 

* Đã có rất nhiều ý kiến than phiền về chất lượng đào tạo đại học của ta, cho rằng điều khiến đại học Việt Nam không thể vượt lên được là do quá thiếu vắng nghiên cứu khoa học có chất lượng bên cạnh việc giảng dạy. Ý kiến của giáo sư về vấn đề này thế nào?

- Trường đại học theo đúng nghĩa mà tiếng Anh gọi là University thì theo tôi, ta có không quá 10 trường đáng được gọi như vậy. Nếu nhìn lại lịch sử từ những năm 1970-1980, chúng ta cũng đã có từng đó trường thôi. Đội ngũ giảng viên, đồng thời là các nhà khoa học của những trường này chủ yếu được đào tạo ở nước ngoài. Do điều kiện kinh tế - xã hội, trong một giai đoạn dài họ không phát triển được hoạt động nghiên cứu. Cái mà họ có thể duy trì được là giảng dạy, và đó đã là một cố gắng lớn của họ rồi. 

Bây giờ mới là lúc chúng ta có thể nghĩ đến việc xây dựng lại nền giáo dục đại học mà trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học thực chất là yếu tố quyết định chất lượng. Vấn đề phải thảo luận ở đây là xây dựng lại như thế nào? 

Sở dĩ giảng viên đại học của chúng ta không nghiên cứu khoa học là vì họ không có điều kiện để nghiên cứu. Họ phải dạy quá nhiều. Một giáo sư ở châu Âu, nếu phải dạy một tuần chín tiết thì họ đã kêu trời rồi, vì họ cho như thế là dạy quá nhiều. Bình thường mỗi giáo sư chỉ dạy bình quân 4-6 tiết/tuần. Có thế chất lượng giảng dạy mới đảm bảo và họ mới có thời gian để nghiên cứu. Nhưng ở ta, bình quân mỗi giảng viên một học kỳ dạy 300 tiết, chia ra 15 tuần thì mỗi tuần 20 tiết... 

* 20 tiết/tuần là bằng định biên của một giáo viên phổ thông...

- Đúng thế. Nhưng các anh ở Bộ Tài chính lại bảo một người bình thường làm việc 40 tiếng/tuần, các anh dạy 20 tiết thì mới bằng nửa thời gian đi làm của người ta! Chấm hết!

Làm khoa học như làm xây dựng

* Dư luận đang sốt ruột vì các nước xung quanh đều có vẻ như đang vượt lên chúng ta. Nếu cứ phát triển theo nhịp điệu trước đây thì có vẻ mãi mãi chúng ta tụt hậu...
- Tôi nghĩ cái đó chúng ta hơi tự làm khổ mình. Mình cứ nghĩ xung quanh họ vượt mình, thật ra mình đã bao giờ bằng họ đâu mà cứ lo họ vượt mình. Từ trước đến nay mình có thể so mình được với ai? Lào hay Campuchia? Trước kia tôi cũng đi nước ngoài nhiều, nhưng toàn đến những nơi mình yên tâm là chắc chắn họ hơn mình nên cũng chẳng nghĩ ngợi nhiều.
Vừa rồi khi sang Đài Loan và Hàn Quốc thì tôi thất vọng hẳn, thấy cái sự “hơn” của họ xa quá, không biết đến bao giờ mình có thể tiệm cận họ. Dường như họ đang đi bằng ôtô mà mình vẫn đi bộ, lại còn chưa biết nên đi hướng nào! Mình cứ lo mình tụt hậu trong khi mình chưa bao giờ bằng họ cả. Vì vậy nếu đưa cái lý lẽ đó để đi vội thì tôi thấy không hợp lý.
Bây giờ phải lo làm sao để mình đừng đi xuống so với chính mình. Dường như trên đà vài chục năm nay, về tổng thể, nền giáo dục của mình đang đi xuống. Có thể quy mô và các con số thành tích ảo thì đi lên, nhưng rõ ràng chất lượng đang đi xuống.
* Nhiều người cho rằng Nhà nước nên đầu tư khôn ngoan hơn cho đại học. Cũng từng đó tiền nếu ta thu hẹp quy mô đầu tư thì hiệu quả sẽ cao hơn? Giáo sư nghĩ sao?

- Nói gì thì nói, trường đại học muốn mạnh thì điều đầu tiên là phải có thầy giỏi. Anh muốn trường đại học của anh ở tầm khu vực thì người thầy của anh phải đạt tầm khu vực. Nhưng để có thầy giỏi thì trước hết phải làm sao để thầy yên tâm nghiên cứu, giảng dạy. Nếu thầy còn phải loay hoay mưu sinh thì tôi nghĩ chẳng còn cách nào để vực nền giáo dục đại học lên được. 

Thứ hai, trường đại học đúng theo nghĩa thì phải có nghiên cứu. Mà nếu muốn nghiên cứu, anh không thể dạy quá nhiều được. Nhà nước quy định tỉ lệ sinh viên/giảng viên là đúng. Nhưng vì tôi tuyển ít sinh viên mà anh cấp cho tôi ít tiền thì cũng vô nghĩa. 

Tôi nghĩ đầu tư cho trường đại học theo số lượng sinh viên là cái vòng luẩn quẩn: anh bảo trường này là trường trọng điểm nhưng tiền anh lại đầu tư theo số sinh viên thì tôi không hiểu trọng điểm chỗ nào? Cuối cùng các thầy lại phải tìm dự án và rồi rất bận rộn vì phải viết báo cáo, làm đề án, bảo vệ đề án, nghiệm thu đề án... Để làm gì? Để hợp thức hóa thu nhập của mình. Cuối cùng tiền vẫn rót về, thầy vẫn được nhận từng ấy, nhưng phải giải trình để nhận được số tiền đó, thời gian giải trình hết cả năm học!

* Đấy có phải là lý do mà nhiều nơi tuy nhiều giáo sư, phó giáo sư, nhiều công trình nghiên cứu nhưng chất lượng nghiên cứu vẫn bị người ta kêu? 

- Chuyện một giáo sư có nghiên cứu hay không cũng do trách nhiệm của giáo sư đó nữa. Nếu nói rằng tôi mất nhiều thời gian quá để viết đề án, không còn thời gian nghiên cứu thì chỉ là ngụy biện. Nhưng mặt khác, khi thấy giáo sư A chỉ làm như thế mà ông ấy sống tốt thì giáo sư B sẽ cho rằng tại sao mình phải làm khác? Nếu anh quy trách nhiệm cho giáo sư cũng đúng nhưng nếu tất cả làm sai thì xử lý thế nào? 

Đến đây, điều cần làm là nhìn lại xem chính sách của mình hợp lý hay chưa! 

* Giáo sư cho là đang thiếu một chính sách quản lý, công cụ kiểm soát tốt?

- Tôi nghĩ là như thế. Thay vì một năm phải bắt bao nhiêu giáo sư đăng ký đề tài khống, đề tài ma mà kinh phí vẫn chừng đó thì anh hãy chuyển thành lương cho giáo sư! Nếu giáo sư nào làm không tốt thì anh thay, nhận người khác. 

Lẽ ra chi cho lương, ràng buộc bằng trách nhiệm thì giờ đây lại quản lý mọi thứ bằng hợp đồng. Chúng tôi làm khoa học vậy mà phải ký không biết bao nhiêu cái gọi là “hợp đồng nghiên cứu”! Cái gì cũng ra hợp đồng cả, cứ như làm xây dựng. Vài ba triệu cũng phải làm cái hợp đồng rất mất thời gian mà cuối cùng vẫn là kinh phí đó. 

* Nhưng thật ra tiền đầu tư cho khoa học có ít không, thưa giáo sư? 

- Tôi từng phát biểu tiền đầu tư cho khoa học không hẳn là ít, mà là không hiệu quả. Tôi chẳng thấy nước nào giáo sư thuộc thành phần giàu có trong xã hội mình đang sống cả. Những người làm khoa học đều xác định nếu muốn giàu có thì đừng làm nghề này. Tuy nhiên ở ta, nếu so với mặt bằng thu nhập của người dân thì nhiều giáo sư rất giàu. Nhưng họ vẫn kêu, vì họ thấy ông giáo sư bên cạnh giàu hơn và họ tìm cách để được giàu như thế. 

Cơ chế quản lý của mình bất cập ở chỗ đó, anh không cần làm khoa học đích thực mà chỉ làm cái này cái kia đã có tiền tỉ. Đề tài của ngành toán thường ít nhưng các ngành khác thì một đề tài làm trong một năm có kinh phí vài ba tỉ đồng không phải là hiếm. Nhưng cuối cùng chúng ta vẫn chẳng được mấy công trình cho ra hồn!

Đừng tự làm khổ mình

* Trong phát triển giáo dục đại học hiện nay có hai xu hướng cơ bản trái ngược nhau. Có ý kiến cho rằng phải duy trì nền đại học tinh hoa, nhưng cũng có nhiều người có quan điểm cần phải phát triển đại học đại chúng để đảm bảo tỉ lệ sinh viên/nghìn dân bằng được các nước trong khu vực...

- Đặt vấn đề dạy lớp 1 cho thật tử tế còn khó nữa là đòi hỏi tỉ lệ sinh viên/nghìn dân phải là bao nhiêu! Tỉ lệ sinh viên/ nghìn dân thấp chỉ có ý nghĩa duy nhất là bộc lộ một thực tế: dân trí của chúng ta thấp. Chúng ta không thể qua một đêm mà nâng dân trí lên được, cũng như không thể qua một đêm mà nâng tỉ lệ sinh viên lên nếu muốn có đông nhân lực trình độ đại học theo đúng nghĩa đích thực của nó. 

Mình có thể mở đại học ra khắp nơi nhưng vấn đề là chất lượng như thế nào? Không có nước nào trên thế giới mà giảng viên đại học lại không phải là tiến sĩ! Vì thế mà câu chuyện mở rộng đại học phải bắt đầu bằng việc đào tạo tiến sĩ. Nhưng như tôi phân tích ở trên, câu chuyện 20.000 tiến sĩ cho đến năm 2020 là không khả thi. Vậy thì chúng ta lấy đâu ra người mà dạy đại học? 

* Cho nên bàn về “đại chúng” hay “tinh hoa” trong bối cảnh này là vô nghĩa? 

- Là chưa hợp lý. Mình phải đảm bảo chất lượng tối thiểu của đào tạo đại học đã. Tất nhiên số lượng cũng sẽ tạo ra chất lượng nhưng không thể qua một đêm mà có được, nhất là chuyện trồng người thì người ta vẫn dùng đến đơn vị trăm năm... 

* Nhưng cá nhân giáo sư thì năm 2012 là một năm thành công đấy chứ! Thậm chí giáo sư còn được giới phóng viên giáo dục đồn thổi là người trốn báo chí thành công nhất? 

- (Cười) Tôi đang so sánh giữa thế hệ này với thế hệ khác chứ không phải nói về sự phát triển của một cá nhân. Về việc báo chí cứ tìm tôi khi tôi được phong giáo sư, tôi thật sự lấy làm lạ. Tôi không nghĩ mình đáng được nhiều người quan tâm và quan tâm nhiều đến thế. 

Tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu tại sao người ta lại gán cho tôi cái danh “giáo sư trẻ”? Việc các nhà khoa học khác được phong giáo sư năm nay nhiều tuổi hơn tôi hoàn toàn chỉ là một sự tình cờ. Anh Nguyễn Quang Diệu thua tôi bốn tuổi mà được phong giáo sư trước tôi một năm. Người ta cứ muốn xoáy vào những chuyện mà tôi thấy rất lạ lùng. 

Bình thường đọc những bài giáo sư trẻ nọ kia tôi đã không cảm thấy thích, giờ chính mình lại bị làm “chim mồi” thì tất nhiên là không thể chịu được rồi. Báo chí tìm đến, nói thật là tôi thấy rất khó xử. Nhiều khi tôi cũng muốn giúp các bạn nhà báo nhưng trong vụ “giáo sư trẻ” này tôi thấy mình thiệt thòi nhiều quá nên đành phải để cho mọi người thất vọng. 

* Xin cảm ơn giáo sư!
Nguồn: Tuổi Trẻ

23 tháng 3, 2013

, , ,

Tinh thần khai phóng


Bài viết này chia sẻ một vài suy nghĩ về một nền giáo dục khai phóng và một nền chính trị khai phóng- các điều kiện cho sự hình thành tinh thần khai phóng cho các thành viên trong xã hội.
Một nền giáo dục khai phóng

Muốn cho các thành viên trong xã hội có được tinh thần khai phóng thì điều kiện trực tiếp là phải có một nền giáo dục khai phóng.

Thời gian gần đây khái niệm “giáo dục khai phóng” được sử dụng nhiều. Có lẽ những người đầu tiên dùng nó đã mượn hoặc dịch từ khái niệm của Paulo Freire: “éducation libératrice”. Đây là một giả định, bởi muốn khẳng định phải có các khảo cứu cần thiết mà người viết bài này hiện tại chưa thực hiện được.

Khái niệm “éducation libératrice” được Freire tường giải trong cuốn Pédagogie des opprimés (tôi dựa vào bản tiếng Pháp, vì không có khả năng đọc bản gốc bằng tiếng Bồ Đào Nha). Ở đây tôi chỉ tập trung vào một vài điểm của cuốn sách.

“Không ai giáo dục người khác, không ai tự giáo dục chính mình, mọi người cùng giáo dục lẫn nhau, thông qua trung gian của thế giới” - Paulo Freire. Một đường lối giáo dục như vậy không cho phép tồn tại phương pháp truyền thụ - tiếp nhận, nó có phương pháp riêng của nó: đối thoại - phương thức để thực hiện sự giải phóng con người.
Nhan đề cuốn sách có nghĩa là: giáo dục học của những kẻ bị áp bức. Đó là loại giáo dục học dành cho những người không chấp nhận chịu áp bức, “những người dấn thân vào cuộc đấu tranh để giải phóng chính họ”. Chữ “opprimé” của Freire phải được hiểu theo nghĩa đó, những kẻ bị áp bức có sứ mệnh giải phóng cho chính mình và cho cả những kẻ đi áp bức. Bởi vì, những kẻ áp bức, dù có đủ quyền lực và bạo lực, không thể tìm thấy sức mạnh để giải phóng cho chính họ và giải phóng cho những kẻ bị áp bức. Sức mạnh giải phóng thuộc về những kẻ bị áp bức, và sức mạnh đó đủ để khai phóng cho cả kẻ bị áp bức lẫn kẻ áp bức. Và khai phóng ở đây là khai phóng cho các tiềm năng của con người, khai phóng cho các năng lực tiềm tàng của con người. Quan niệm này dẫn tới sự hình thành ý tưởng về một nền giáo dục khai phóng trong đó vai trò của các thành phần tham gia quá trình giáo dục thay đổi một cách căn bản: giáo viên không còn chỉ đóng vai trò duy nhất là nhà giáo dục, học sinh không còn chỉ đóng vai trò duy nhất là người được giáo dục; mà trong quá trình giáo dục vai trò của hai bên có thể được hoán đổi cho nhau, giáo viên và học sinh cùng giáo dục lẫn nhau. Tinh thần này thể hiện trong mệnh đề nổi tiếng của Freire: “Không ai giáo dục người khác, không ai tự giáo dục chính mình, mọi người cùng giáo dục lẫn nhau, thông qua trung gian của thế giới”. Một đường lối giáo dục như vậy không cho phép tồn tại phương pháp truyền thụ - tiếp nhận, nó có phương pháp riêng của nó: đối thoại. Đối thoại chính là phương thức để thực hiện sự giải phóng con người. Hoạt động dạy học trở thành hoạt động đối thoại. Chỉ với đối thoại học sinh mới có thể ngừng là đối tượng để trở thành chủ thể, trở thành trung tâm của quá trình giáo dục. Từ quan điểm này ta sẽ thấy, dù chúng ta có tuyên bố hàng nghìn lần trên đủ mọi phương tiện truyền thông rằng chúng ta đang thực hiện một nền giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, nhưng nếu chúng ta không cho phép học sinh, sinh viên trình bày suy nghĩ riêng của họ, kể cả những suy nghĩ đó có thể đối lập với bài giảng của giáo viên, thì lúc đó vẫn chưa thể có chuyện học sinh là trung tâm. Khi quá trình giảng dạy còn chưa phải là một quá trình đối thoại, và giáo viên chưa phải là người tổ chức đối thoại và chưa trở thành đối tượng đối thoại với học sinh, sinh viên, thì vẫn chưa thể nói tới giáo dục khai phóng. Và lúc đó, chúng ta lấy cơ sở nào để hy vọng rằng có tinh thần khai phóng ở giới trẻ ?

Theo tôi, chữ “khai phóng” là chữ rất hay. Tất cả chúng ta nợ người đầu tiên sử dụng khái niệm này để chuyển dịch hay để nghiên cứu. Từ “libérateur/libératrice” trong tiếng Pháp dùng để gọi người giải phóng, khi là tính từ nó dùng để chỉ hành động giải phóng: éducation libératrice có nghĩa là nền giáo dục giải phóng cho con người. Từ “khai phóng” trong tiếng Việt có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn. Tôi chiết tự từ “khai phóng” để hiểu từ này như là một kết hợp của hai nghĩa: khai minh và giải phóng. Dĩ nhiên đây chỉ là cách hiểu của cá nhân tôi. (Cũng có thể hiểu yếu tố “khai” là “khai mở”, “giải tỏa”, và theo nghĩa này thì nó có nét nghĩa chung với yếu tố “phóng”).
Muốn đạt tới việc tự giải phóng cho bản thân mình và giải phóng cho người khác, trước hết con người phải được khai minh. Và khai minh ở đây được hiểu theo nghĩa của Kant: có khả năng sử dụng trí tuệ của mình một cách độc lập. Và muốn có thể độc lập sử dụng trí tuệ của mình thì phải có hai điều: tri thức và sự dũng cảm. Sau Kant, càng ngày nhân loại càng hiểu rõ vai trò của tri thức. John Dewey, nhà giáo dục học nổi tiếng của Mỹ, có trách cứ khiếm khuyết trong chương trình lịch sử phổ thông (dĩ nhiên, nhận xét của ông nhằm vào sách giáo khoa thời đại ông): “Trong lịch sử phổ thông có lẽ lịch sử tri thức là ngành lịch sử bị bỏ quên nhiều nhất. Chúng ta chỉ mới bắt đầu hiểu ra rằng các anh hùng vĩ đại đem lại sự tiến bộ cho số phận của nhân loại KHÔNG PHẢI LÀ (tôi nhấn mạnh – NTTH) các chính trị gia, các vị tướng, các nhà ngoại giao, MÀ HỌ LÀ (tôi nhấn mạnh – NTTH) các nhà phát minh và sáng chế khoa học, những người đã đặt vào tay con người những phương tiện của một kinh nghiệm đang phát triển và được kiểm soát, và các nghệ sĩ và thi nhân, những người đã ngợi ca những cuộc tranh đấu, những chiến thắng, và thất bại của nhân loại bằng thứ ngôn ngữ nào đó, dù là ngôn ngữ hình ảnh, tạo hình hoặc chữ viết, khiến tất cả những người khác đều có thể cùng sử dụng được ý nghĩa của chúng”1 Một trong những vai trò của tri thức, mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó là nó tạo điều kiện cho sự hình thành tinh thần khai phóng. Và giáo dục khai phóng không chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt tri thức, mà, như trên đã nói, nó còn có sứ mệnh chuẩn bị cho học sinh khả năng tạo ra tri thức.

Một nền chính trị khai phóng

Muốn có được một nền giáo dục khai phóng thì điều kiện trực tiếp là phải có một nền chính trị khai phóng.

Dĩ nhiên ở đây tôi không có một khái niệm nào (chẳng hạn như “politique libératrice”) để dựa vào. Bằng cụm từ “nền chính trị khai phóng” này tôi muốn nói tới một hình thức chính trị, một hình thức tổ chức, điều hành xã hội cho phép các cá nhân giải phóng và phát triển các năng lực của họ, tôi muốn nói tới một nền chính trị không kìm hãm con người và không kìm hãm sự phát triển của xã hội. Trong tất cả các hình thái chính trị mà nhân loại đã biết cho tới hiện nay, ta thấy một nền chính trị dân chủ và tiến bộ có khả năng đảm bảo sự khai phóng cho con người trên diện rộng, tức là sự khai phóng ở cấp độ cả cộng đồng. Tôi không phải là nhà tiên tri, nên không biết trong tương lai liệu loài người có thể đạt tới hình thái nào khác tối ưu hơn hình thái dân chủ để điều hành xã hội một cách có hiệu quả và đảm bảo tính nhân bản, đảm bảo cho tự do của con người. Tôi dẫn ra đây nhận định của John Dewey: “Một xã hội tiến bộ bao giờ cũng trân trọng những khác biệt cá nhân bởi nó tìm thấy ở đó phương tiện cho sự tăng trưởng của chính nó. Vì thế, một xã hội dân chủ, phù hợp với lý tưởng của nó, bắt buộc phải cho phép tự do trí tuệ và sự phát huy các năng khiếu và hứng thú đa dạng tồn tại trong các biện pháp giáo dục.”2

“Một xã hội tiến bộ bao giờ cũng trân trọng những khác biệt cá nhân bởi nó tìm thấy ở đó phương tiện cho sự tăng trưởng của chính nó. Vì thế, một xã hội dân chủ, phù hợp với lý tưởng của nó, bắt buộc phải cho phép tự do trí tuệ và sự phát huy các năng khiếu và hứng thú đa dạng tồn tại trong các biện pháp giáo dục”. John Deway
Như vậy, tự do trí tuệ và tự do phát triển các năng lực cá nhân là điều kiện cho sự tăng trưởng của toàn xã hội. Tự do trí tuệ là điều kiện cho sự tiếp thu và sáng tạo tri thức; tiếp thu và sáng tạo tri thức chính là hoạt động khai phóng. Nếu chúng ta không hiểu được điều này, không biến sự hiểu biết này thành các chính sách, các chương trình hành động cụ thể, thì khó mà có thể nói đến sự tăng trưởng hay sự phát triển của xã hội. Nếu không có một nền chính trị cho phép tồn tại và phát triển nền giáo dục khai phóng, cho phép tự do trí tuệ, tự do chiếm lĩnh và sáng tạo tri thức, thì các điều kiện cho sự phát triển bền vững sẽ không hình thành được. Vì các điều kiện đó hình thành trên nguồn lực con người. Một nền chính trị thiếu dân chủ sẽ thủ tiêu các năng lực, các tiềm năng sáng tạo của con người. Đó là căn nguyên sâu xa nhất của mọi sự trì trệ, lạc hậu, kém phát triển, yếu kém, lệ thuộc.

Trong một nền chính trị thiếu dân chủ, khi nhà trường trở thành công cụ tuyên truyền cho các đường lối mang tính áp đặt, thì dĩ nhiên phương thức đối thoại ít có cơ may được sử dụng, hoặc đối thoại chỉ mang tính hình thức, vì rốt cuộc các trao đổi, nếu có, cũng chỉ dẫn tới việc sinh viên buộc phải chấp nhận các kết luận mang tính áp đặt của giáo viên. Một nền giáo dục mang tính áp đặt, khó mà có thể phát triển tư duy cho học sinh, cùng lắm chỉ có thể giúp phát triển các năng lực nhớ trong não bộ của học sinh. Trong lúc đó, từ lâu, từ thế kỷ XIX, với John Dewey, học đã không còn là học thuộc lòng, không còn là tích lũy kiến thức, mà “học tức là học tư duy”. Mục đích của giáo dục là hình thành các năng lực tư duy. Mục đích đó chỉ đạt được khi đối tượng của tư duy là thực tại, là những gì gắn với đời sống của người tư duy. John Dewey viết: “Nếu tư duy chẳng liên quan gì đến điều kiện có thực và nếu nó không xuất hiện một cách hợp lo-gich từ những điều kiện này để đi tới sự suy tưởng về mục đích phải đạt được, khi ấy con người sẽ không bao giờ phát minh, hoặc không bao giờ lên kế hoạch, hoặc không bao giờ biết cách nào để thoát khỏi bất kỳ sự rắc rối hay khó khăn nào. Như chúng ta đã lưu ý, nhờ những yếu tố cố hữu lẫn sức ép của hoàn cảnh mà tư duy có những đặc tính lo-gich hoặc đặc tính của tư duy đích thực”.3

Như vậy, rõ ràng đặc tính của tư duy đích thực chỉ hình thành khi tư duy cọ xát với các vấn đề của thực tại, mà John Dewey gọi là “điều kiện có thực”. Nếu một nền chính trị, thông qua trường học, không cho phép học sinh sinh viên đối chiếu kiến thức sách vở với thực tế của họ, không cho phép họ dùng các kiến thức sách vở để suy nghĩ về các vấn đề có thực của đời sống, thì học sinh sinh viên sẽ không thể phát triển tư duy. Hệ quả là dù có trải qua bao nhiêu năm trên ghế nhà trường đi nữa, dù có các bằng cấp cao đến mấy đi nữa, thì những con người bị đào tạo bởi một nền giáo dục áp chế, trong một nền chính trị áp chế, sẽ không thể có phát minh, như Dewey nhận xét, sẽ không có khả năng giải quyết các khó khăn, không có khả năng giải quyết các vấn đề do thực tại đặt ra. Chúng ta có thể kiểm chứng kết luận này, mà John Dewey đã nêu ra cách đây cả thế kỷ, bằng hiện thực của chúng ta ngày hôm nay, cái hiện thực về sự lúng túng của toàn bộ cộng đồng chúng ta trong việc giải quyết các vấn nạn của xã hội. Sự lúng túng này là dấu hiệu bộc lộ sự yếu kém chung của chúng ta, là dấu hiệu chứng tỏ các năng lực người của chúng ta bị cạn kiệt, chứng tỏ năng lực tư duy của chúng ta suy yếu. Chúng ta rất đông về dân số, nhưng so với một cộng đồng ít ỏi như Singapore, chúng ta quả thật là kém họ trên rất nhiều phương diện. Các năng lực tiềm tàng của chúng ta không thua kém họ, tôi tin là như vậy. Nhưng các năng lực đó đã không được khai phóng để tạo thành sức mạnh. Chúng ta nên làm cái thao tác kiểm chứng này để hiểu tại sao cần một nền giáo dục khai phóng và một nền chính trị dân chủ, không phải cho ai khác, mà cho chính mỗi chúng ta, cho con cháu chúng ta và cho tương lai của cả xứ sở này. Chúng ta cần phải nhìn vào tương lai để điều chỉnh những cách vận hành của hiện tại, bởi nếu chúng ta không điều chỉnh hiện tại này thì có nguy cơ sẽ đánh mất tương lai. Tôi dẫn lại ở đây ý kiến của Dewey: “Con người không dùng hiện tại để kiểm soát tương lai. Con người dùng sự nhìn thấy trước tương lai để điều chỉnh và mở rộng hoạt động hiện tại. Sử dụng sự ham muốn, sự suy nghĩ và lựa chọn theo cách này, tự do được hiện thực hóa”.4

Trên đây là các điều kiện (dĩ nhiên chưa đầy đủ), theo tôi, để hình thành tinh thần khai phóng cho các thế hệ, trên phạm vi rộng. Thiếu các điều kiện đó thì hậu quả là cộng đồng sẽ không được khai phóng. Tuy nhiên, đối với các cá nhân thì không hẳn. Trong một môi trường không có cả giáo dục khai phóng lẫn chính trị khai phóng ta thấy vẫn có các cá nhân được khai phóng. Nhưng chúng tôi sẽ không đề cập đến vấn đề này trong phạm vi bài viết này, ngoại trừ một điều: môi trường càng thiếu vắng các điều kiện cho sự khai phóng cộng đồng, thì lại càng cần có các cá nhân có tinh thần khai phóng. 

--------------------------------------------------------------------------------
 
1 John Dewey, Dân chủ và giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Tri Thức, 2008, tr. 257.
2 Dân chủ và giáo dục, sđd, tr. 361.
3 John Dewey- Về giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Trẻ & Dtbooks, 2012, tr. 343.
4 John Dewey- Về giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Trẻ & Dtbooks, 2012, tr. 156

22 tháng 3, 2013

, ,

Đại học và nghiên cứu khoa học ở Bắc Triều Tiên

Bắc Triều Tiên dĩ nhiên là một quốc gia khép kín và kì cục nhất trên thế giới. Khép kín và kì cục do họ tự chọn. Do đó, những thông tin về hoạt động khoa học ở Bắc Triều Tiên rất hiếm hoi. Hệ thống giáo dục đại học của nước này lại càng ít ai biết đến. Nhưng tôi mới đọc một bài báo viết về hợp tác khoa học với Bắc Triều Tiên, và qua đó có thể thu thập vài dữ liệu thú vị.

Ai cũng biết Bắc Triều Tiên là một nước theo xã hội chủ nghĩa, nhưng không theo … Mác Lê. Triết lí của Đảng Lao động Triều Tiên là tự lực – juche, chứ không hẳn là theo chủ nghĩa Mác Lê. Ít ai biết rằng dù chính danh là xã hội chủ nghĩa, nhưng tất cả các đề cập đến “cộng sản” (hay communism) đều bị loại bỏ khỏi hiến pháp, loại bỏ khỏi các văn bản pháp luật. Xem ra việc này Bắc Triều Tiên có phần khác với Việt Nam, vì dự thảo hiến pháp năm nay danh từ “cộng sản” xuất hiện 2 lần, và xã hội chủ nghĩa 30 lần.

Ít người biết rằng Bắc Triều Tiên là nước rất xem trọng khoa học. Theo giới chuyên gia Mĩ, ở Bắc Triều Tiên, đầu tư cho khoa học chỉ đúng sau đầu tư cho quân sự. Bắc Triều Tiên cũng có nhiều hợp tác khoa học với ngoài, nhưng chỉ giới hạn trong nhóm các nước xã hội chủ nghĩa, như Liên Xô cũ, Đông Âu, và China.

Dù Bắc Triều Tiên là nước tự khép kín về chính trị, nhưng thông tin khoa học thì có vẻ cập nhật hoá tốt. Hiện nay, Bắc Triều Tiên gần như chẳng có liên lạc gì với thế giới bên ngoài. Ngay cả hệ thống internet cũng rất hạn chế. Một nhà khoa học Mĩ đến thăm Bắc Triều Tiên cho biết ngay khi đến phi trường, điện thoại di động của ông bị giữ lại, nhưng họ cho đem máy tính laptop vào. Khi vào khách sạn, mỗi lần muốn gửi email, ông phải viết tay rồi đưa cho tiếp viên khách sạn (người mà ông nghi là công an trá hình), người này gõ vào máy và gửi đi, chứ ông không được đụng vào máy tính! Nhưng Bắc Triều Tiên tự phát triển một hệ thống mạng trong nước gọi là Kwangmyong, giống như intranet vậy. Hệ thống này cũng là phương tiện các nhà khoa học chia sẻ thông tin với nhau, nhưng dưới sự điều hành của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ. Cũng qua hệ thống Kwangmyong, các nhà khoa học có thể đọc tập san khoa học nước ngoài và sách điện tử (ebook).

Bắc Triều Tiên có một website trông cũng hấp dẫn. Đó là trang web http://korea-dpr.com. Trang web có phần mô tả hoạt động khoa học, nhưng chẳng có nối kết nào để tìm thêm thông tin!

Đại học

Bắc Triều Tiên có 30 đại học, kể cả 10 đại học y khoa. Một số đại học lớn có thể kể đến là:

  • Đại học Kim Nhật Thành (Kim Il Sung University hay KISU) là đại học loại elite và đa ngành. Trường này thành lập năm 1946, ngay sau khi Bắc Triều Tiên thoát khỏi sự đô hộ của Nhật. Trường có 16,000 sinh viên, và là trường lớn nhất của Bắc Triều Tiên.
  • Đại học Công nghệ Kim Chaek (Kim Chaek University of Technology hay KCUT) có khoảng 10,000 sinh viên. Trường có hợp tác đào tạo với Đại học Syracuse của Mĩ.
  • Đại học Khoa học Tự nhiên (University of Natural Science). Trường này chỉ có 3000 sinh viên.
  • Đại học Khoa học và Công nghệ Bình Nhưỡng (Pyongyang University of Science and Technology – PUST) mới được thành lập, và bắt đầu tuyển sinh từ năm 2010.


PUST là một trường hợp rất thú vị, vì nó cho thấy Chính quyền Bắc Triều Tiên không bảo thủ (về giáo dục) như chúng ta tưởng. PUST là một trường tư thục duy nhất ở Bắc Triều Tiên. Trường do một nhóm Hàn Kiều ở Mĩ theo đạo Tin Lành xây dựng và điều hành. Toàn bộ chi phí xây dựng (45 triệu USD) đều do Hàn Kiều tài trợ. Xin nói thêm rằng Hàn Kiều ở đây là dân Nam Hàn (chứ không phải Bắc Triều Tiên). Trong số 29 giảng viên và giáo sư nước ngoài của PUST, hơn phân nửa là người Mĩ, hay Hàn Kiều. Trong khi cả nước ít ai có thể sử dụng Google thì ở PUST tất cả sinh viên đều có thể truy cập internet và dùng Google. Hiệu trưởng PUST là Tiến sĩ Chin Kyung Kim tự tin rằng trong vòng 10 năm, ông sẽ đưa PUST lên một đại học đẳng cấp quốc tế.

Khuôn viên Đại học Khoa học và Công nghệ Pyongyang (PUST)
Cần nói thêm rằng ông hiệu trưởng cũng là Hàn Kiều (từ Mĩ) từng bị Chính quyền Bắc Triều Tiên cho “lên bờ xuống ruộng”. Năm 1998, trong một chuyến đi làm từ thiện ở đây, ông bị bắt bỏ tù vì công an nghi ông làm gián điệp (ai họ cũng nghi là gián điệp)! Đến năm 2009, ông quay lại Bắc Triều Tiên và được chào đón như là khách danh dự, và đảm nhiệm chức hiệu trưởng PUST. Phó hiệu trưởng là người do Bộ Giáo dục Bắc Triều Tiên bổ nhiệm.

Năm 2011, PUST tổ chức một hội nghị khoa học, và qua các bài proceeding chúng ta có thể có vài ý niệm về nghiên cứu khoa học trong nước ra sao. Proceeding của hội nghị này có thể xem qua trang web sau đây: http://itri2.org/s/PUST.pdf (chú ý rằng tài liệu có trên 200 trang). Trong đó, có bài diễn văn của ông hiệu trưởng đọc cũng … được, nhưng hơi lan man. Bài diễn văn nói nhiều về ý nguyện hoà bình của Bắc Triều Tiên. Ông nói “We say that we want peace and I believe that we are sincere when we say that” (Chúng tôi nói rằng chúng tôi muốn hoà bình và tôi tin rằng chúng tôi thành thật khi nói ra câu đó). Chẳng hiểu sao lúc thì “chúng tôi”, lúc lại “tôi”. Ông còn nói ông từng học ở Âu châu vào thập niên 1960s và chứng kiến giáo dục có khả năng đánh đỗ bức tường Bá Linh và thống nhất Âu châu. Hình như ông lầm, vì thập niên 1980s chứ đâu phải 1960s (?) Nhưng thôi, ở Bắc Triều Tiên mà ông nói được như thế là hay rồi, và tiếng Anh của ông cũng khá.

Nghiên cứu khoa học

Rất khó biết Bắc Triều Tiên nghiên cứu gì, vì thiếu thông tin. Nhưng qua các chỉ số về công bố, chúng ta có thể có vài ý niệm về nghiên cứu khoa học ở đó. Tính từ 1975 đến 2012, tổng số bài báo khoa học của Bắc Triều Tiên trên các tập san ISI là 251 bài. Tuy nhiên, con số này có xu hướng tăng nhanh từ 2006. Năm 2011, các nhà khoa học Bắc Triều Tiên công bố được 30 bài, so với 3 bài mỗi năm trong những năm thuộc thập niên 1990.

Khoảng 40% bài báo khoa học từ Bắc Triều Tiên là hợp tác với nước ngoài. Những nước có hợp tác nhiều với Bắc Triều Tiên là China (25%), các nước trong khối OECD (13%), và các nước khác (kể cả Úc và Việt Nam) là 2%.

Phần lớn những bài báo này xuất phát từ những trường hàng đầu của Bắc Triều Tiên. Chẳng hạn như riêng trường ĐH Kim Nhật Thành (KISU) công bố 69 bài, ASK 45 bài, và KCUT 18 bài.

Về lĩnh vực nghiên cứu, khoảng 50% tập trung vào hai ngành vật lí và kĩ thuật & công nghệ. Có thể xem qua tỉ lệ bài báo như sau:
  • Vật lí: 26%
  • Kĩ thuật và công nghệ: 25%
  • Hoá học: 14%
  • Y học: 13%
  • Toán: 9%
  • Sinh học: 8%

Tóm lại, những dữ liệu trên cho thấy Bắc Triều Tiên rất quan tâm đến khoa học, và ở mức độ nào đó, có lẽ quan tâm hơn Việt Nam. Mặc dù các nhà khoa học Bắc Triều Tiên ít công bố nghiên cứu của họ trên các tập san quốc tế (có lẽ do chính sách giữ bí mật), nhưng rõ ràng nền công nghệ và kĩ thuật của họ không kém như thế giới tưởng. Bằng chứng là họ có thể phóng hoả tiễn và làm vũ khí hạt nhân. Nhưng Bắc Triều Tiên vẫn là một nước rất nghèo. Điều đáng ngạc nhiên là một đất nước Mao-ít và giáo điều như thế mà có đại học tư do Hàn Kiều thành lập và điều hành, một điều rất khó xảy ra ở Việt Nam. Có thể xem đó là một “tiến bộ” hơn Việt Nam?

Tham khảo:

Shelton RD, Lewison G. Scientific collaboration as a window and a donor into North Korea. Scientometrics 29/1/2013.

Bowers K. North Korea: What a terrible state to get into. The New Scientist 29/11/2012.

21 tháng 3, 2013

, ,

Con đường xây dựng các đại học đẳng cấp quốc tế của Trung Quốc

Đại học Liên hợp Bắc Kinh
Có thể dễ dàng nhận thấy một điểm chung giữa các nước đang phát triển khi họ bước vào thời kỳ thịnh vượng nhờ nhanh chóng tăng trưởng kinh tế, là những tham vọng lớn lao về giáo dục và văn hóa, trong đó có cuộc tìm kiếm con đường đưa những trường đại học đang có lên vị trí “đẳng cấp quốc tế”, hoặc xây dựng mới những trường đại học đẳng cấp quốc tế (world class university- WCU). Trung Quốc (TQ) là một điển hình hết sức đáng chú ý đối với Việt Nam, do vai trò đặc biệt của TQ trên thế giới, do sự gần gũi về đặc điểm văn hóa và nhất là chính trị. Bài viết này trình bày tóm tắt quá trình xây dựng và triển khai kế hoạch xây dựng những trường đại học đẳng cấp quốc tế (ĐHĐCQT) của TQ, kết quả của những kế hoạch và nỗ lực ấy, đồng thời thử tìm cách lý giải nguyên nhân. Trong một bài khác, chúng tôi đã nêu lên mô hình ngũ giác bao hàm năm yếu tố cơ bản tạo nên đặc điểm của một trường đại học: những giá trị văn hóa tinh thần, cơ cấu tổ chức và quản trị, nguồn lực, các hoạt động và các thành quả. Con đường xây dựng các ĐHĐCQT của TQ tiêu biểu cho sự lựa chọn nhấn mạnh ba yếu tố sau, tương tự như con đường mà Việt Nam đang đi trong thời gian vừa qua. Do vậy tìm hiểu bài học TQ là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng trường ĐH đạt chuẩn mực quốc tế cho Việt Nam

1. Về quá trình xây dựng ĐHĐCQT của TQ

Vấn đề ĐHĐCQT trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của Nhà nước TQ
 
Không thể phủ nhận quyết tâm hết sức lớn lao của Nhà nước TQ trong việc chủ trương đưa một số trường đại học TQ vào danh sách các đại học hàng đầu thế giới. Họ coi đó là một chiến lược phát triển quốc gia, và điều này thể hiện rõ trước hết trong chính sách của Nhà nước TQ đối với giáo dục đại học.

Về mặt chính sách,Nhà nước TQ coi giáo dục đại học là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình hiện đại hóa TQ. Mọi kế hoạch phát triển của Nhà nước đều nhấn mạnh đến giáo dục ở mọi cấp, từ phổ cập giáo dục tiểu học toàn quốc đến việc xây dựng ĐHĐCQT như là đỉnh cao của hệ thống giáo dục. TQ muốn cạnh tranh với toàn thế giới trong nhiều lãnh vực, và giáo dục đại học là lãnh vực duy nhất mà tiêu chuẩn quốc tế được chính thức dùng làm thước đo cho những thành công ở trong nước. 

Ngay từ thập niên 50, TQ đã có chính sách đầu tư đặc biệt cho một số trường trọng điểm, và từ giữa thập kỷ 90, khi Giang Trạch Dân, sau đó là lãnh đạo của TQ, chính thức nêu rõ quyết tâm chuyển biến các trường đại học TQ, ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học đã tăng hơn gấp đôi, lên tới 10,4 tỷ USDtrong năm 2003.Từ những năm 90, TQ bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng 100 trường đại học chất lượng cao trước khi bước sang thế kỷ 21, với một kế hoạch được gọi là  Dự án 211. Năm 1998 tại lễ kỷ niệm 100 năm Đại học Bắc Kinh, chủ tịch nước tuyên bố TQ cần có những trường đẳng cấp quốc tế, ngay sau đó Dự án 985 ra đời nhằm thực hiện chủ trương này. Năm 2005, sau Hội nghị Quốc tế về ĐHĐCQT do Đại học Giao thông Thượng Hải đăng cai tổ chức, Dự án 111 ra đời để khắc phục chỗ yếu của các trường đại học tinh hoa ở TQ nhằm nhanh chóng đạt vị trí “đẳng cấp quốc tế”.  Nếu như 211 và 985 nhằm nâng cao nguồn lực tài chính để trang bị cơ sở vật chất và trang thiết bị nghiên cứu tối tân cho các trường, thì Dự án 111 chủ yếu để “mua” các tài năng từ nước ngoài đem về các trường đại học TQ nhằm tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích nghiên cứu. Các sáng kiến này chủ yếu nhằm vào các trường hàng đầu với mục đích nâng cao năng lực nghiên cứu để thực hiện tham vọng của TQ trong việc giành ngôi vị đẳng cấp quốc tế. Nhiều lần các quan chức Chính phủ đã phát biểu một cách hiển ngôn niềm hy vọng sẽ đưa một loạt các trường đại học TQ vào hàng ngũ đại học đẳng cấp quốc tế trước năm 2020.

Để thực hiện chính sách ấy, Nhà nước TQ đã chi những khoản tiền khổng lồ cho giáo dục đại học so với tương quan GDP của họ. Từ những năm 50, đã có những trường được coi là “đại học trọng điểm quốc gia” (national key universities). Năm 1954 có 6 trường được gọi là đại học trọng điểm quốc gia, đến năm 1959 thêm 16 trường và 44 trường tính đến năm 1960, rồi một lần nữa danh sách này được bổ sung thêm 4 trường trong năm 1963. Sau cuộc Cách mạng Văn hóa, các trường đại học trọng điểm quốc gia được đặt tên lại, thêm nhiều trường được bổ sung vào danh sách này, tính đến năm 1981, có tất cả là 96 trường như vậy. Các trường trọng điểm quốc gia này được ưu tiên hơn những trường khác trong các chính sách về tài chính. 

Chính sách đầu tư trọng điểm này vẫn tiếp tục và càng lúc càng tăng cường độ. Từ năm 1984, 10 trường đại học được cung cấp tài chính bổ sung từ Dự án Trọng điểm Quốc gia là: Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Phúc Đán, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Giao thông, Đại học Bách khoa TQ, Đại học Y khoa Bắc Kinh, Đại học Remin, Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Đại học Nông nghiệp TQ. Trong những năm cuối của thập kỷ 80, 416 chương trình trọng điểm quốc gia ở 107 trường đã được chọn để hỗ trợ tài chính bổ sung như một phần của Dự án Trọng điểm Quốc gia được gọi là Dự án 211. Để thực hiện dự án này, trước hết Nhà nước Trung Quốc đầu tư 400 triệu nhân dân tệ (khoảng 50 triệu USD) cho những trường được chọn lựa để nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Đồng thời chính quyền địa phương cũng được yêu cầu cung cấp hỗ trợ tài chính cho những trường này. Chẳng hạn, chính quyền đặc khu Thượng Hải đã đóng góp cho Đại học Phúc Đán và Đại học Giao thông Thượng Hải mỗi trường 120 triệu nhân dân tệ (15 triệu USD) năm 1995 để nâng cao chất lượng dạy học và điều kiện nghiên cứu ở cả hai trường. Điều này chứng tỏ mong muốn của các chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ các trường đại học hàng đầu nằm trong khu vực địa phương của mình. Đến năm 1998, khi Dự án 985 ra đời, chỉ 38 trường được hưởng nguồn tài chính từ dự án này. Đại học Bắc Kinh, Đại học Triết Giang, Đại học Phúc Đán, Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Nam Kinh, Đại học Bách khoa TQ, Đại học Giao thông Xi’an và Viện Kỹ thuật Harbin là 9 trường đứng hàng đầu trong những trường được sự hỗ trợ mạnh mẽ nhất của Dự án 9851. Dự án này cung cấp cho Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa, hai trường trọng điểm hàng đầu của Trung Quốc một ngân sách trọn gói trong ba năm là 1,8 tỷ nhân dân tệ (234 triệu USD) mỗi trường như một khoản tài trợ đặc biệt nhằm xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. Chính sách tài chính này khiến hệ thống giáo dục đại học TQ phân hóa rõ rệt: chỉ vài mươi trường tinh hoa đang khao khát đạt tới vị trí đẳng cấp quốc tế, và được Nhà nước đầu tư rất mạnh, trong lúc phần lớn sinh viên phải theo học ở những trường đại học cấp tỉnh ở địa phương, các cơ sở giáo dục cho người lớn, đào tạo từ xa qua mạng Internet, và mới đây là các đại học tư, là những trường bị buộc phải xoay trở để tìm nguồn tài chính mà tồn tại. Mong muốn của TQ trở thành đủ sức cạnh tranh với cả thế giới trong nghiên cứu và đào tạo chỉ giới hạn trong một vài trường hàng đầu, kết quả của chiến lược “nhà nghèo, con đông”: Nhà nước chỉ tập trung cho những mũi nhọn với hy vọng tạo được sức mạnh đột phá về thành tích.

Tuy vậy, ngay cả những trường tốt nhất mặc dù đang nhận những khoản tài trợ đặc biệt từ Dự án 985 về Xây dựng ĐHĐCQT, cũng phải tìm kiếm những nguồn tài chính phi Chính phủ cho ngân quỹ hoạt động hàng năm của họ. Những nguồn tài chính hỗ trợ khác gồm có các tài trợ nghiên cứu của Quỹ Tài trợ Khoa học Quốc gia TQ và Quỹ Tài trợ Khoa học Xã hội, mặc dù mức tài trợ của những quỹ này thấp hơn nhiều so với những tổ chức Chính phủ ở Mỹ. Các trường đại học cũng phải tìm kiếm sự hợp tác hỗ trợ của các doanh nghiệp hoặc tổ chức cộng đồng ở địa phương để thực hiện những nghiên cứu ứng dụng cũng như những chương trình giáo dục và đào tạo. Cạnh tranh giữa các trường trong lĩnh vực này khá quyết liệt. Mặc dù nguồn hỗ trợ tài chính dành cho các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đã tăng rất đáng kể từ năm 1999, ngân sách hoạt động hằng năm của họ vẫn nhỏ hơn nhiều so với các trường ĐHĐCQT của phương Tây (ngân sách của Harvard năm 2008 là 2,996 tỷ USD!2)

Không chỉ đầu tư mạnh về tài chính, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường, về mặt tổ chức, Nhà nước TQ đã tiến hành những cải tổ quan trọng. Trong những năm 50, TQ theo mô hình trường đại học chuyên ngành của Xô Viết. Vì hầu hết các trường ĐHĐCQT đều là các trường tổng hợp và bao gồm nhiều chuyên ngành, Chính phủ TQ đã thực hiện tái cấu trúc các trường đại học và coi đó như một nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả của các trường và phục vụ cho việc đầu tư trọng điểm để xây dựng những trường ĐHĐCQT.  Từ năm 1992, đã có hơn 200 trường đại học chuyên ngành được sáp nhập lại thành các trường đại học tổng hợp và đa ngành. Trong quá trình tái cấu trúc, hầu hết các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đều giành được một trường chuyên ngành có chất lượng đỉnh cao như trường y hay một số trường chuyên ngành hẹp khác. Chẳng hạn, Đại học Y khoa Bắc Kinh đã được sáp nhập vào Đại học Bắc Kinh, Đại học Mỹ Thuật Quốc gia đã được sáp nhập vào Đại học Thanh Hoa. 

Bên cạnh việc tái cấu trúc, một nỗ lực đáng chú ý của Nhà nước TQ là việc tiến hành xếp hạng các trường đại học, bao gồm cả xếp hạng quốc gia và xếp hạng quốc tế. Xuất phát điểm của chủ trương này là ý muốn xác định khoảng cách giữa các trường đại học TQ và các trường ĐHĐCQT và tìm hiểu những nhân tố nào đưa một trường đại học lên hàng đẳng cấp quốc tế. Viện Nghiên cứu Giáo dục Đại học của Đại học Giao thông Thượng Hải đã tiến hành thu thập dữ liệu của 500 trường đại học trên toàn thế giới theo những tiêu chí xác định, có thể xác minh được, và tiến hành xếp hạng. Bảng xếp hạng này trở thành rất nổi tiếng và được coi là một trong hai hệ thống xếp hạng quốc tế được biết đến rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Năm 2005 họ đã đưa ra một danh sách xếp hạng hầu như hoàn toàn dựa trên những sản phẩm và kết quả nghiên cứu của các trường. TQ cũng đứng ra tổ chức Hội thảo Quốc tế về WCU năm 2005 tập hợp hàng trăm nhà khoa học trên toàn thế giới để bàn về chủ đề này.

Ngoài xếp hạng quốc tế, TQ còn thực hiện xếp hạng quốc gia. Từ giữa thập kỷ 90, việc xếp hạng các trường đại học trở thành một hiện tượng phổ biến ở TQ. Có năm chương trình xếp hạng có ảnh hưởng mạnh, trong đó có 4 là xếp hạng trường. Kết quả xếp hạng được coi là một nguồn thông tin quan trọng đối với sinh viên và phụ huynh. Các trường đại học và Chính phủ cũng hết sức quan tâm chú ý tới việc xếp hạng. Dù có nhiều trở ngại trong vấn đề xếp hạng các trường đại học ở TQ, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới sự sẵn sàng và độ tin cậy của dữ liệu, kết quả xếp hạng cũng đem lại cho sinh viên một ý niệm đại khái về địa vị của mỗi trường đại học. 

Về mặt quản lý, Bộ Giáo dục TQ tuy không còn giữ lề lối hoạt động trong một xã hội được điều khiển bằng mệnh lệnh như trước đây, nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát những nhân tố chính của giáo dục đại học, như giảng viên và số lượng sinh viên mỗi ngành học, mức thu học phí, việc bổ nhiệm các chức vụ quản lý lãnh đạo cao cấp. Tuy vậy, trong bộ khung hành chính quan liêu này, các trường đại học cũng có quyền tự chủ nhiều hơn trong việc quyết định nội dung chương trình đào tạo, thành lập những viện nghiên cứu mới, thay đổi cơ cấu tổ chức nhà trường, và xác lập những ưu tiên về tài chính.

Chiến lược xây dựng trường ĐHĐCQT của các trường đại học TQ

Tuyển dụng nhân sự trên phạm vi toàn cầu và tăng cường quốc tế hóa:  
Các trường đại học TQ hiểu rõ con người là nhân tố quyết định cho thành công của một trường đại học. Họ không có đủ sức mạnh tài chính để lôi cuốn được những giáo sư đẳng cấp quốc tế với số lượng đủ để đảm bảo cho hoạt động của một trường, thay vào đó, họ có chủ trương rất rõ ràng nhằm thu hút những trí thức Hoa kiều và những người TQ được đào tạo từ các nước phương Tây. Các trường đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải đặc biệt thành công trong việc thu hút những người học ở nước ngoài trở về nhận những vị trí nghiên cứu và giảng dạy. Có khi họ trở về ở hẳn TQ, có khi họ thương lượng một chế độ qua lại thường xuyên cho phép họ duy trì cương vị của họ ở phương Tây trong lúc bỏ ra nhiều tháng mỗi năm làm việc tại TQ.  

Nếu những người TQ được đào tạo ở phương Tây có thể có nhà ở, xe cộ, những phương tiện văn hóa và trường học tốt cho con cái họ, thì trở về TQ không còn là một sự hy sinh như trong quá khứ. Dùng những người trở về này thay cho các chuyên gia nước ngoài cũng sẽ thích hợp hơn với mục tiêu của TQ trong việc tự lực và tăng sức cạnh tranh dài hạn. Mặc dù chi phí của các đại học TQ tăng cao vì mức lương của những người trở về này phải đủ sức cạnh tranh quốc tế, trong những lĩnh vực được ưu tiên cao (đặc biệt là trong khoa học và kỹ thuật), sự đầu tư này được coi là thiết yếu để tạo ra những chương trình giảng dạy và nghiên cứu với những phương pháp và lý thuyết tối tân nhất. Thêm vào đó, cơ sở vật chất mới cũng tạo điều kiện cho các trường đại học TQ tuyển mộ giảng viên và cán bộ nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu, nhất là các khoa học gia người TQ có bằng tiến sĩ ở châu Âu.  

Để tăng cường tính chất quốc tế hóa, TQ cũng đang nỗ lực để trở thành thỏi nam châm thu hút sinh viên nước ngoài, thường là từ các quốc gia châu Á, chứ không chỉ quan tâm đến việc gửi nhân tài của họ sang phương Tây. Mục tiêu của họ là 100,000 sinh viên nước ngoài đến học tại TQ trong một tương lai gần. Mặc dù các trường đại học TQ vẫn tiếp tục đưa ra những chương trình học ngắn hạn về ngôn ngữ và văn hóa cho người nước ngoài, phần lớn là người Mỹ, ngày càng có nhiều trường đào tạo sinh viên nước ngoài cả trong những ngành học khác và cấp bằng chính quy cho họ. Với quyết tâm xác định vị trí của mình một cách tích cực trong bối cảnh toàn cầu, các trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở TQ rất thiết tha với các hoạt động hợp tác quốc tế. Đã có nhiều thành công đạt được trong những chương trình trao đổi sinh viên và liên kết đào tạo. Nhiều trường đang có những tiến bộ vượt bậc trong việc thu hút sinh viên quốc tế và xây dựng những chương trình hợp tác nghiên cứu. Họ đang cố gắng vận dụng những tiêu chuẩn đánh giá có tính chất quốc tế đối với đội ngũ giảng viên của mình cũng như đối với các chương trình đào tạo.

Đầu tư mạnh vào phòng thí nghiệm và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu
Các trường đại học TQ rất chú trọng nghiên cứu và đào tạo về khoa học kỹ thuật, đầu tư các nguồn quỹ mà họ có quyền chủ động sử dụng vào việc xây dựng những phòng thí nghiệm mới với những thiết bị kỹ thuật tối tân. Việc cộng tác với các đại học nước ngoài là một cách đã được thử thách qua thời gian để các đại học TQ khởi động những chương trình nghiên cứu ở trình độ quốc tế. 

Năm 1986, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đầu tiên được xây dựng tại Đại học Bắc Kinh. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của các đại học nghiên cứu cùng với khoản tài trợ nghiên cứu và phát triển cho các phòng thí nghiệm được Nhà nước Trung ương hỗ trợ và đặt tại các trường đại học, và việc các nghiên cứu của trường đại học được xem như một bộ phận của hệ thống nghiên cứu khoa học cơ bản của quốc gia. Ý tưởng thành lập các phòng nghiên cứu trọng điểm của quốc gia và đặt tại các trường đại học thực ra là học tập từ mô hình của các trường đại học nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, chủ trương tài trợ của Nhà nước Liên bang Hoa Kỳ đối với việc nghiên cứu của các trường đại học đã ảnh hưởng mạnh đến việc cải cách hệ thống nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc.Ví dụ phổ biến nhất là Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley,  Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, và Phòng Thí nghiệm Quốc gia Los Alamos tại hệ thống đại học California. Trong lúc các phòng thí nghiệm quốc gia tại các trường đại học Trung Quốc hầu hết dựa trên cơ sở chuyên ngành nhằm mục đích tạo ra các trung tâm chất lượng cao trong từng lĩnh vực, sự thành lập của những phòng thí nghiệm ấy biểu hiện niềm hy vọng các trường đại học Trung Quốc rồi đây sẽ có được những phòng nghiên cứu giống như những phòng nghiên cứu mà Đại học California đang có. 

Dựa trên những thông tin của Mạng lưới Nghiên cứu và Giáo dục Trung Quốc, đến năm 2002 đã có 91 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tại các trường đại học hàng đầu. Hiện nay chỉ riêng Đại học Bắc Kinh đã có 13 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia như thế, những công trình nghiên cứu tại đó gắn chặt với những vấn đề khẩn thiết nhất của quốc gia trong việc phát triển.

Xây dựng các trường đại học nghiên cứu và coi nghiên cứu như là một chức năng chính ở các trường trọng điểm khác. 
Trong thập kỷ 50, TQ áp dụng mô hình Xô Viết về việc thành lập các viện nghiên cứu độc lập và nằm ngoài trường đại học, kể cả Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia TQ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội TQ, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp. Những viện hàn lâm này có hàng trăm viện nghiên cứu bao gồm tất cả các lãnh vực chuyên ngành. Cho đến thập kỷ 80, hầu hết các hoạt động nghiên cứu ở TQ đều được thực hiện ở các viện nghiên cứu độc lập này, còn nhiệm vụ chính của các trường đại học chỉ là giảng dạy. Chủ trương xây dựng ĐHĐCQT khiến Nhà nước TQ phải xem lại điều này. Không phải ngẫu nhiên mà hệ thống tiêu chí xếp hạng quốc tế của SJTU rất xem trọng thành quả nghiên cứu của các trường. Thành tích nghiên cứu hiển nhiên là tác động trực tiếp tới uy tín của nhà trường, hiển nhiên là tác động tới trình độ phát triển của quốc gia, và chắc chắn có ảnh hưởng tích cực đối với việc giảng dạy và đào tạo. Vì vậy những trường đại học hàng đầu và được đầu tư trọng điểm ở TQ để đạt đẳng cấp quốc tế đều xác định rõ định hướng nghiên cứu của mình. Quỹ Khoa học Quốc gia TQ thành lập năm 1986 đã mang lại cho các trường đại học TQ cơ hội cạnh tranh các nguồn tài trợ dành cho việc nghiên cứu. Việc dựa trên những sáng kiến nghiên cứu của Bộ Khoa học Công nghệ và các bộ khác trong Chính phủ TQ trong thập kỷ 80 và 90 cũng tạo cho các trường đại học TQ thêm nhiều cơ hội quan trọng. Đồng thời, bản thân các trường đại học khác cũng bắt đầu chú trọng hơn đến công tác nghiên cứu, vì nghiên cứu đã được thừa nhận là một chức năng trọng yếu của nhiều trường đại học ở TQ. Nhà nước TQ tiến hành phân loại đại học nghiên cứu loại 1, loại 2, v.v…căn cứ vào tỷ lệ sinh viên cao học, và những trường được phân loại là đại học nghiên cứu được cấp kinh phí cao hơn. Các giáo sư ở những trường hàng đầu TQ đang dành thời gian cho nghiên cứu nhiều hơn là giảng dạy. Một số lớn các giáo sư và phó giáo sư chẳng hề dạy một môn nào ở bậc đại học. Để nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học, Bộ Giáo dục thậm chí đã phải ban hành một hướng dẫn năm 2003 yêu cầu các giáo sư và phó giáo sư phải tham gia giảng dạy ở bậc đại học. 

Sự thành công của các trường đại học nghiên cứu Hoa Kỳ đã được công nhận là một khuôn mẫu cho giáo dục đại học trên toàn thế giới. Ở thập kỷ 80 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế  thậm chí đã bắt đầu thảo luận về mô hình hệ thống nghiên cứu khoa học của Hoa Kỳ. Mô hình Hoa Kỳ có một tác động rất lớn đối với hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc. Từ năm 1978, hàng ngàn giảng viên và sinh viên Trung Quốc đã đổ xô vào Hoa Kỳ vì họ quan tâm đến giáo dục và tri thức bậc cao. Rất nhiều hội thảo và ấn phẩm tập trung vào các trường đại học nghiên cứu Hoa Kỳ: họ đã hoạt động như thế nào và chúng ta có thể học tập ở họ những gì. Kinh nghiệm Hoa Kỳ đã trở thành cội nguồn cho rất nhiều ý tưởng về cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc, trong đó có ý tưởng về xây dựng các trường đại học nghiên cứu.

2- Những kết quả mà TQ đã đạt được

Thành tựu
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đại học tại TQ và sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ của Chính phủ TQ, các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đang có những bước đi quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của họ và tạo ra những tiến bộ rất đáng kể nhằm đạt mục tiêu chiến lược của họ là trở thành những trường ĐHĐCQT.

Trong khoảng từ năm 2000 đến 2005, số lượng công bố khoa học của các trường đại học nghiên cứu hàng đầu trong danh mục SCI đã tăng gấp đôi. Đại học Thanh Hoa đã có khoảng 2700 bài báo được liệt kê trong danh mục SCI năm 2003, gần bằng con số của các trường hàng đầu thuộc top 50 của thế giới. Các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ cũng đã bắt đầu nhấn mạnh đến chất lượng của các công bố khoa học bằng cách khen thưởng những bài báo có tỉ lệ được trích dẫn cao hoặc xuất hiện trên những tạp chí chuyên môn danh tiếng. Xu Tian, nhà nghiên cứu di truyền học hàng đầu được đào tạo tại Đại học Yale và hiện nay vẫn đang dạy tại đó, phụ trách một phòng thí nghiệm ở Đại học Phúc Đán nơi tiến hành những nghiên cứu về biến đổi gene. Ngày 12 tháng 8 năm 2005, nghiên cứu có tính đột phá của ông đã được nêu trên trang bìa của tờ tạp chí nghiên cứu uy tín lừng lẫy- Tạp chí Nghiên cứu Các Tế bào- lần đầu tiên một khoa học gia TQ có vinh dự ấy!

Số giảng viên có bằng tiến sĩ đã đạt đến 50% ở các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ tính đến năm 2005 và hy vọng sẽ đạt đến 75% trước năm 2010. Những trường này cam kết nâng cao số giảng viên có bằng tiến sĩ từ các trường ĐHĐCQT. Các nhà quản lý của Đại học Bắc Kinh ước lượng khoảng 40% cán bộ giảng dạy của họ được đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu là ở Mỹ. 

Thêm vào đó, họ còn nỗ lực đặc biệt để lôi cuốn các giáo sư đẳng cấp quốc tế bằng nhiều cách. Trường Đại học Bắc Kinh đã lôi kéo được tài năng của Tian Gang- một nhà toán học hàng đầu của MIT, trong việc xây dựng một trung tâm nghiên cứu quốc tế về toán cao cấp trong số các trung tâm nghiên cứu trình độ cao khác. 

Tỉ lệ của học viên sau đại học (kể cả các khóa học chuyên môn) với sinh viên đại học vẫn còn ở mức 1:1. Các trường đại học đang phải đấu tranh với việc nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, đặc biệt là năng lực sáng tạo và đổi mới của một bộ phận nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nghiên cứu sinh tiến sĩ thường được yêu cầu có bài đăng trên tạp chí quốc tế trước khi có thể bảo vệ luận án.

Nhìn rộng ra cả hệ thống, chỉ trong vòng một thế hệ, kể từ năm 1978, TQ đã đưa tỉ lệ những người trong độ tuổi vào đại học từ 1,4% lên đến 20%. Chỉ riêng trong lãnh vực kỹ thuật, TQ tạo ra 442,000 cử nhân hằng năm, cùng với 48,000 người hoàn tất bằng thạc sĩ và 8,000 người đạt học vị tiến sĩ.

Tuy vậy, cho đến nay chỉ có Trường Đại học Bắc Kinh và một vài trường hàng đầu của TQ là được thế giới công nhận là có chất lượng cao. Tiêu chí số lượng bài báo khoa học trong danh mục SCIE và SSCI tính trên đầu người được đưa ra nhằm phản ánh hiện tượng cạnh tranh quốc tế ngày càng phát triển và đặt TQ trong một bối cảnh có tính chất quốc tế. Con số thấp nhất về tỉ lệ công bố khoa học trên đầu người trong số 60 trường thành viên của Hiệp hội Các trường Đại học Hoa Kỳ được chọn làm tiêu chuẩn cho TQ, chỉ số này được xác định là 0,7 trong năm 2004. Chỉ có 10 trường đại học TQ có được chỉ số này ở trên mức tối thiểu của Hoa Kỳ.

Khoảng cách, và những thử thách đang đặt ra
Trong bảng xếp hạng quốc tế của SJTU năm 2005, không một trường đại học TQ nào lọt vào danh sách 200 trường hàng đầu trên thế giới. Chỉ có 8 trường đại học TQ lọt vào danh sách 500 trường hàng đầu. Vị trí cao nhất mà các trường đại học TQ đạt được là trong khoảng 151 đến 2003. Còn trong bảng xếp hạng THES cùng năm, Đại học Bắc Kinh được xếp thứ 15, và chỉ có 5 trường đại học TQ nằm trong top 200 mà thôi. Ba năm sau, trong bảng xếp hạng năm 2008 cũng của SJTU thực hiện với cùng phương pháp và tiêu chí, vẫn không có tên một trường đại học nào của Trung Quốc trong danh sách 200 trường hàng đầu. Năm trường lọt vào thứ hạng cao nhất từ 152-200 là Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa,  Đại học Nam Kinh, Đại học Giao Thông Thượng Hải, Đại học Chiết Giang, Shanghai Jiao Tong University, tức là không có bước tiến nào đáng kể so với kết quả xếp hạng năm 2005. Trong bảng xếp hạng THES năm 2008, chỉ có 2 trường đại học TQ lọt vào danh sách 100, nhưng lại tụt hạng so với chính họ: Đại học Bắc Kinh xếp hạng 50 năm 2008 trong lúc được xếp hạng 36 năm 2007, hạng 14 năm 2006. Mặc dù giới khoa học quốc tế gièm pha, chê bai cả hai hệ thống xếp hạng này vì những đánh giá không thỏa đáng về chất lượng, nhưng các trường đại học TQ thì nhìn vấn đề này một cách nghiêm túc như là một chỉ số cho thấy vị trí cạnh tranh của họ.  Họ biết rằng phải mất một thế hệ hoặc hơn nữa để các trường đại học TQ có thể có chất lượng thực sự ngang bằng với những trường của Âu Mỹ. Các học giả TQ không phải là không có lý khi nghĩ như vậy, vì mặc cho mọi khác biệt về phương pháp và kỹ thuật, vẫn có một sự đồng thuận rất cao giữa hai hệ thống xếp hạng về 12 vị trí đầu tiên của bảng xếp hạng, điều này cho thấy uy tín của các trường ĐHĐCQT là một thực thể  thực sự tồn tại khách quan và đo lường được. 

Điểm phân biệt chủ yếu giữa các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ và các trường đại học đẳng cấp quốc tế là chất lượng của giảng viên và nghiên cứu, được thể hiện qua số cán bộ khoa học đoạt được các giải thưởng khoa học quốc tế chính, qua số lượng tác giả được nhiều nhà khoa học khác nêu trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, qua số lượng cán bộ giảng viên được đào tạo bậc tiến sĩ ở các trường đại học đẳng cấp quốc tế, qua số lượng các bài báo khoa học được công bố quốc tế, và qua một số nhân tố khác nữa. 

Các trường ĐHĐCQT có trung bình 4,4 giảng viên đoạt giải Nobel và Huy chương của ngành, có trung bình 56 nhà nghiên cứu được nhiều người trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu, trong lúc không một trường đại học nào ở TQ có được một cán bộ khoa học đạt giải Nobel hoặc Huy chương Field. TQ cũng thiếu những tác giả được nhiều người trích dẫn trong những lĩnh vực khoa học chủ yếu.4

Hơn 85% giảng viên tại các trường đại học đẳng cấp quốc tế có bằng tiến sĩ do các trường thuộc top 100 trên toàn thế giới cấp, trong lúc con số này chỉ là 10% ở các trường đại học TQ hàng đầu như Đại học Thanh Hoa hay Đại học Bắc Kinh5. Số trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo khoa học trong Danh mục Trích dẫn Khoa học- SCI vào khoảng từ 2 đến 3 đối với các đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ như Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh, so với 25 ở Harvard 6.

Sự kiểm soát của Nhà nước đối với các trường đại học TQ đang giảm đi. Tuy vậy Nhà nước TQ vẫn giữ ảnh hưởng mạnh mẽ thông qua việc phân bổ nguồn lực, chuẩn thuận chương trình đào tạo, đánh giá dự án, và vô số các buổi họp hành. Vẫn còn một chặng đường rất dài để các trường đại học TQ có thể đạt được sự mở rộng quyền tự chủ. Vì năng lực đổi mới kỹ thuật của công nghệ TQ rất yếu kém, Nhà nước khuyến khích các trường đại học nghiên cứu phục vụ việc phát triển kinh tế của quốc gia. Phần lớn các nghiên cứu thực hiện ở TQ là nghiên cứu ứng dụng và tuyệt đại đa số là có liên quan đến phát triển công nghệ.  Nghiên cứu cơ bản vẫn còn là một thứ xa xỉ đối với các trường đại học nghiên cứu ở TQ.

Chỉ có một số rất nhỏ các giáo sư đại học thực hiện việc nghiên cứu vì những mối quan tâm thuần túy khoa học. Phần lớn họ dạy học và làm nghiên cứu như một cách để kiếm sống. Chất lượng giảng viên, tiêu chí đề bạt, và quy trình đánh giá còn rất xa so với ước muốn xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế. Vì vậy, cải cách triệt để, tận gốc rễ là một điều hết sức thiết yếu.

Bên cạnh đó, cuộc cạnh tranh giữa Viện Hàn lâm Khoa học TQ và các trường đại học đang ngày càng mạnh mẽ. Viện Hàn lâm được bảo đảm quyền cấp bằng sau đại học, và mục đích của họ là đạt được 50.000 nghiên cứu sinh trước năm 2020. Hơn nữa, họ còn có ngân sách bổ sung do Nhà nước Trung ương cấp bên cạnh ngân sách hoạt động thường xuyên. Bởi vậy khả năng cạnh tranh của họ trong những khoản tài trợ nghiên cứu chính và đáp ứng nhu cầu của đất nước sẽ tăng lên. 

Dù các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của TQ đang tìm cách trở thành đại học đẳng cấp quốc tế, họ đang chú ý nhiều hơn đến cạnh tranh trong nước thay vì cạnh tranh quốc tế để duy trì vị thế hiện tại và giành các nguồn lực cần thiết, điều này làm giảm sự tập trung trong những nỗ lực cạnh tranh quốc tế của họ. 

3- Bài học Trung Quốc

Qua con đường của TQ và những thành tựu mà họ đạt được đã nêu tóm tắt trên đây, có thể nói, nhờ Nhà nước TQ có chính sách đẩy mạnh giáo dục đại học, TQ đã tiến một bước rất dài trong việc đại chúng hóa giáo dục đại học, và đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. Tuy nhiên, kể từ khi Chính phủ TQ chính thức tuyên bố tham vọng có được những trường đại học đẳng cấp quốc tế vào năm 1998 đến nay, mười năm đã trôi qua cùng với những khoản đầu tư khổng lồ, khoảng cách của các trường đại học hàng đầu của TQ với những trường đẳng cấp quốc tế vẫn còn rất xa. 

Năm 2005, Tạp chí McKinsey đã thực hiện một nghiên cứu về thị trường lao động TQ và kết luận, thật nghịch lý là TQ có hàng triệu người tốt nghiệp đại học nhưng lại thiếu nhân tài. Diana Farrell và Andrew J. Grant ước lượng chỉ khoảng 10% các kỹ sư trẻ người TQ có những kỹ năng thích hợp cho công việc trong các doanh nghiệp đa quốc gia; số còn lại không có đủ kỹ năng ngôn ngữ và những hiểu biết văn hóa cần thiết để thực hiện chức phận của mình trong những công việc có tính cạnh tranh cao. Truyền thống giáo dục của TQ là một trong những thủ phạm gây ra vấn đề này. Điển hình là lối dạy thuần túy thuyết giảng và lối học ghi nhớ: các giáo sư thường đòi hỏi sinh viên phải nhớ bài giảng và những nội dung trong sách giáo khoa rồi lặp lại trong các bài thi thay vì phải phát triển sự hiểu biết thấu đáo và tinh thần sáng tạo. Đã vậy, sinh viên ngành kỹ thuật còn phải chịu đựng những chương trình đào tạo đã quá lạc hậu. Có rất ít cơ hội làm việc cùng nhau, cũng như không có dịp cho họ trải nghiệm thế giới thực, và những vị trí thực tập thì không đủ cho tất cả mọi người. Đặt những nhân tố này cùng nhau, các nhà phân tích McKinsey kết luận rằng TQ sẽ không thể chuyển sang công nghiệp dịch vụ trong thập kỷ tới và như vậy cũng không thể cạnh tranh ở mức toàn cầu về công nghệ kỹ thuật cao trong tương lai gần7. 

Hiển nhiên là các học giả TQ biết rõ họ phải nỗ lực đẩy mạnh cải cách và tư duy phê phán. Một số trường hàng đầu đã xây dựng chương trình giáo dục tổng quát ở bậc đại học nhằm đem lại cho sinh viên một nền tảng kiến thức rộng rãi hơn, mặc dù những nỗ lực này chưa đủ để đem lại những kết quả mong đợi vì bị cấy ghép vào một hệ thống thi cử khắt khe và cứng nhắc, một hệ thống vẫn còn đang ban thưởng cho sự học vẹt! Điều này chắc chắn cũng sẽ phải thay đổi trong một vài năm tới đây.  

Đó là nói về giáo dục đại học TQ nói chung, còn nói riêng về giấc mộng ĐHĐCQT của TQ, thì lý do chính khiến TQ chưa thể lọt vào danh sách các trường hàng đầu trên thế giới là do TQ thiếu những tài năng đỉnh cao trong khoa học cơ bản đủ để sánh bằng thành tích của các trường ĐHĐCQT. Một số nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các trường tỏ ra hết chịu đựng nổi cuộc tranh luận vẫn đang tiếp diễn về vấn đề ĐHĐCQT. Người ta bắt đầu nhận ra rằng xây dựng một ĐHĐCQT là một quá trình lâu dài chứ không phải là kết quả tức thời của một ước muốn và một số tiền đầu tư “một cục” khổng lồ. Thực ra, nhiều người thậm chí còn hoài nghi về khả năng liệu TQ có thể thực sự xây dựng được một ĐHĐCQT hay không, bởi vì những trường được công nhận rộng rãi là một mẫu mực về ĐHĐCQT như Oxford ở Anh hay Harvard và Yale ở Hoa Kỳ đều đã phải trải qua hàng thế kỷ phát triển. Chẳng những thế, những trường này đều đã rất tiến triển trong một môi trường chính sách khác và hình thức khác của cơ cấu quản lý đại học.

Thử đi tìm nguyên nhân
Nhà nước TQ và giới học giả, giới quản lý giáo dục đại học có một quyết tâm hết sức to lớn trong việc xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, và đã dành nhiều nguồn lực tài chính lớn lao cho kế hoạch này, nhưng dường như kết quả đạt được vẫn chưa được như họ mong đợi. 

TQ đang tập trung vào khoa học tự nhiên và kỹ thuật, những lĩnh vực phản ánh nhu cầu phát triển của quốc gia, nhưng đồng thời cũng phản ánh sự thiên vị của một hệ thống chính trị độc tài vốn ngăn cấm những phát biểu tự do. Khoa học xã hội và nhân văn thường liên quan tới những ý tưởng phê phán về chính trị, kinh tế và lịch sử. Nhà nước ít nhấn mạnh đến việc đạt đẳng cấp quốc tế trong những môn này. Tuy vậy, nhiều người TQ cũng nhận định –thường là một cách gián tiếp- rằng việc hạn chế những cuộc tranh luận khoa học có thể cản trở những nỗ lực tạo ra các trường ĐHĐCQT.

Lin Jianhua, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bắc Kinh nhận định: “Hiện nay, tôi cho rằng chẳng có trường đại học nào ở TQ có một bầu không khí có thể so sánh được với các trường đại học lâu đời ở phương Tây- Harvard hay Oxford- về mặt tự do diễn đạt ý tưởng” (…)Chúng ta cố gắng đem lại cho sinh viên một môi trường tốt hơn, nhưng để có thể làm được điều đó, cần có thời gian. Không phải là 10 năm, mà là một hay hai thế hệ”8. 

Ge Jianxiong, một nhà địa lý lỗi lạc ở Đại học Phúc Đán, nói rằng văn hóa Trung Hoa đòi hỏi những kết quả nhanh chóng, điều này có thể xói mòn việc nghiên cứu. “Ở TQ, các dự án thường ngắn hạn, thông thường là 3 năm. Sau đó người ta đòi hỏi phải có các ấn phẩm đồ sộ. Trong những cuộc nghiên cứu thực sự, cần phải cho các nhà khoa học sự tự do cần thiết để có được kết quả tốt, chứ không chỉ là kết quả mà người ta muốn”. Trong khi đó, cơ chế bảo đảm quyền tự do học thuật ở phương Tây cho phép một nhà khoa học có thể chẳng có một bài nghiên cứu nào được công bố trong hàng chục năm, để rồi đến năm thứ mười chẳng hạn, thì công bố một bài báo đưa ra cách giải quyết cho những câu hỏi đã tồn tại hàng trăm năm nay mà chưa có lời đáp!

Ge bổ sung thêm những khó khăn của giáo dục khi nó luôn luôn được coi là công cụ của chính trị. Điểm yếu lớn nhất, như nhiều nhà khoa học TQ đã cho biết, là sự thiếu vắng tự do học thuật. Yang, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Phúc Đán, cảnh báo rằng nếu không xây dựng được một bầu không khí đúng đắn, những bộ óc vĩ đại ở nước ngoài có thể sẽ chỉ đến TQ một hay hai năm là tìm đường rút vì bực bội. 

Gong Ke, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thanh Hoa, nói rằng các trường đại học “có bổn phận bảo đảm cho tự do học thuật”. 

"Chúng tôi có những giáo sư dạy ở đây, người nước ngoài, đang dạy rất khác với quan điểm của chính phủ TQ”. Ông nói thêm: “Có những người phê phán mạnh chính sách kinh tế của TQ”. 

Điều cần nhất bây giờ, như các nhà khoa học giỏi nhất của TQ nói, và nhấn mạnh, là những bộ óc độc đáo. 

Điều vĩ đại nhất mà TQ đã làm được trong 20 năm qua là đưa 200 triệu người thoát cảnh đói nghèo. Xu nói: “Tuy vậy, TQ vẫn chưa nhận ra rằng nếu muốn tiến lên một trình độ mới, thì phải hiểu rằng các con số là không đủ. Chúng ta cần một cuộc cách mạng mới để đưa chúng ta ra khỏi nền văn hóa mà giải thưởng là trở thành quan chức Nhà nước. Chúng ta phải học cách ban thưởng cho những đổi mới thực sự, cho những tư tưởng độc lập, và những công trình học thuật chính cống!”9

Phải chăng tình trạng thiếu vắng tự do học thuật là nguyên nhân khiến các trường hàng đầu ở TQ chưa thể đi xa hơn được, dù quyết tâm của Chính phủ rất lớn và đầu tư cũng không nhỏ? Liệu điều này có thể giải thích những hạn chế của hệ thống giáo dục đại học TQ, khi tự do học thuật không phải là vấn đề đối với các bộ môn khoa học kỹ thuật và ứng dụng, những lĩnh vực mà Nhà nước TQ rất khuyến khích?

Có lẽ câu trả lời phải tìm không chỉ trong những nhân tố về thể chế, mà còn trong những nhân tố văn hóa. Nền giáo dục TQ chưa bao giờ thoát ly hoàn toàn truyền thống Khổng giáo, nơi người ta đi học là để tiếp thu những chân lý có sẵn của thánh hiền, chứ không phải để thử thách hay cọ xát với những tri thức đã có. Điều này tất nhiên ảnh hưởng lớn đến phương pháp dạy và học trong nhà trường và không khuyến khích tinh thần phản biện, tinh thần tự do sáng tạo, là những nhân tố cốt yếu của đời sống đại học, và là những nhân tố quyết định đối với năng lực nghiên cứu.

4- Kết luận

Thực tiễn xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở Trung Quốc cho chúng ta thấy quyết tâm của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó giúp mang lại những nguồn lực cần thiết cho các trường để thực hiện nâng cao chất lượng hoạt động. Tuy nhiên, chỉ nguồn lực thôi thì không đủ để tạo ra được những thay đổi mong đợi. TQ đã đi từ Dự án 211 đến Dự án 985 theo hướng tập trung tăng cường nguồn lực tài chính cho một số ít trường trọng điểm, rồi lại tiếp tục đến dự án 111 theo hướng “mua” người tài từ bên ngoài về để tăng nhanh số lượng công bố khoa học và thành tích nghiên cứu, nhưng kết quả vẫn không được như họ mong muốn, bởi vì đó vẫn chỉ là những giải pháp đắp vá. Phải chăng TQ đã nhắm đến những nhân tố bề ngoài, những thứ ở phần ngọn, những biểu hiện của kết quả hoạt động chẳng hạn số lượng công bố khoa học và trích dẫn, thay vì phải nhắm vào những nhân tố bên trong, những thứ có ý nghĩa cốt lõi và là nguyên nhân của thành công, chẳng hạn những chính ách thực sự giải phóng năng lực của con người? Phải chăng những chính sách ấy chính là điều mà TQ cần, để tạo ra một tầng lớp trí thức có thể sáng tạo ra những giá trị tinh thần thực sự, vì chỉ với những giá trị ấy, trường đại học mới thực sự là nơi kiến tạo tri thức, vun trồng tài năng và thực hiện được sứ mệnh của nó? Xét cho cùng, thứ hạng trong bảng xếp hạng chỉ quan trọng nếu nó phản ánh được mức độ đạt được sứ mạng mà một trường đại học phải thực hiện. Đó là sứ mạng làm động lực thúc đẩy sự phát triển của từng cá nhân, của cả cộng đồng, của từng quốc gia và sau hết là sự tiến bộ của toàn thể nhân loại.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1 Nian Cai Liu, 2005. Research Universities in China: Differentiation, Classsification, and Future World-Class Status
2 Nguồn: QS Quacquarelli Symonds (www.topuniversities.com) 
3Institute of Higher Education, Shanghai Jiao Tong University 2005. Academic ranking of world universities-2005.http://ed.sjtu.edu.cn/ranking.htm.
4 Cheng, Y., S. X. Liu. 2005. When will Chinese universities be able to become world – class? Journal of Higher Education 26 (4) : 1-6
5 Jiang, Y., P. 2004. The origins of doctoral degrees of faculty members in world-class universities. Jiangsu Gaojiao no. 4: 106-09.
6 Nian Cai Liu, 2005. Bài đã dẫn
8 Howard W. French 2005. Nguồn: The International Herald Tribune, 27 October 2005
9 Howard W. French 2005. Bài đã dẫn
Nguồn: Tia Sáng